English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
60 năm phát triển kinh tế- xã hội từ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (10:40 23/08/2005)

Anh 60 nam
Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt
Nam đã mở ra đất nước độc lập, tự do, nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.

Trong 60 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thắng lợi vĩ đại không chỉ trong công cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn cả trong phát triển kinh tế - xã hội theo con đường Bác Hồ đã chọn - con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trước năm 1945, sau khi xác lập được hệ thống cai trị, thực dân Pháp bắt tay vào quá trình khai thác qui mô nhằm vơ vét khoáng sản và nhân công rẻ mạt ở Việt Nam. Trong hơn 60 năm đô hộ của thực dân Pháp, kinh tế Việt Nam luôn chìm đắm trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân ta phải sống trong ách nô lệ và đói nghèo. Đến năm 1945, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và manh mún.

Sản xuất công nghiệp rất nhỏ bé và què quặt. Số nhà máy trong những năm 1930 - 1943 khoảng 200 cái với qui mô nhỏ bé, trang bị cũ kỹ. Cả nước không có một cơ sở công nghiệp luyện kim, công nghiệp chế tạo máy móc, công nghiệp hóa chất. Đầu tư cho công nghiệp ít ỏi và chủ yếu chỉ tập trung vào khai thác mỏ. So với tổng số vốn đầu tư vào công nghiệp toàn Đông Dương thời kỳ 1913 - 1939 vốn đầu tư cho ngành mỏ chiếm 40%, riêng thời kỳ 1924 - 1930 là 52%.

Từ năm 1930 - 1945, thực dân Pháp đã tập trung khai thác tài nguyên của nước ta: 2765,7 nghìn tấn than, 217,3 nghìn tấn kẽm, chì; 598 nghìn tấn sắt, măng gan, 1384 kg vàng, 315,5 nghìn tấn phốt pho.

Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nền nông nghiệp nước ta hết sức nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về kỹ thuật và hoàn toàn dựa vào lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên. Năng suất các loại cây trồng đều rất thấp. Năng suất lúa bình quân 1 ha thời kỳ 1930 - 1944 là 12 tạ, trong khi đó Thái Lan là 18 tạ, Nhật Bản là 34 tạ.

Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp. Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất. Trong nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê, cuốc mướn. Nghịch cảnh sâu sắc diễn ra dưới thời thực dân Pháp chiếm đóng: hàng năm Việt Nam xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân Việt Nam, người làm ra lúa gạo, lại luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo. Năm 1945 ở miền Bắc có trên 2 triệu người chết đói.

Thực dân Pháp đã thực hiện một nền giáo dục nô dịch, trên 90% dân số nước ta bị mù chữ. Thời kỳ 1931 - 1940 trong 100 người dân chưa được 3 người đi học, trên 3 vạn dân mới có một học sinh cao đẳng hoặc đại học.

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành trong cả nước. Với thắng lợi to lớn của cuộc bầu cử Quốc hội năm 1946, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân.

Với mưu toan xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp xâm phạm chủ quyền và định chiếm các thành phố, thị trấn của ta. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Đảng và Chính phủ, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến đầy gian khổ nhưng rất anh hùng. Cùng với nhiệm vụ thực hiện cuộc kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, chúng ta đã thực hiện chuyển nền kinh tế đầy dãy tàn tính thực dân, phong kiến và thấp kém thành nền kinh tế dân chủ, độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến và kiến quốc.

Kinh tế kháng chiến (1946 - 1954) chủ yếu là kinh tế nông thôn. Do đó, Đảng và Chính phủ đã chú trọng trước hết đến sản xuất nông nghiệp, không ngừng động viên nông dân ra sức tăng gia sản xuất, đồng thời tiến hành từng bước chính sách ruộng đất để giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn, cải thiện đời sống cho nông dân, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội.

Chỉ tính riêng từ năm 1945 đến tháng 4 năm 1953 ở vùng tự do và đến tháng 7 năm 1954 ở vùng mới giải phóng, nông dân miền Bắc đã được chia 475,9 nghìn ha ruộng đất và ở Nam Bộ, chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân 410 nghìn ha. Do lực lượng sản xuất được giải phóng, sản xuất nông nghiệp vùng giải phóng đạt mức tăng trưởng khá. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 2,95 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, trong đó 2,3 triệu tấn thóc tăng 15,9%.

Công nghiệp và thủ công nghiệp kháng chiến được xây dựng, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng đã góp phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu chiến đấu và tiêu dùng. Ngoài số lượng lớn về vũ khí đạn dược, các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu được sản xuất ngày càng nhiều. Từ năm 1946 - 1950 đã sản xuất 20 nghìn tấn than cốc, 800 kg ăngtimon. Từ năm 1950 đến cuối năm 1952 sản xuất được 29,5 tấn thiếc, 43,0 tấn chì. Những năm 1950 - 1954 đã sản xuất được 169,3 triệu mét vải, 31,7 nghìn tấn giấy.

Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục - chống giặc dốt được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, đi đôi với chống giặc ngoại xâm, giặc đói. Từ 1946 đến 1954 có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ.

Từ một nền kinh tế nông nghiệp cực kỳ lạc hậu, kiệt quệ vì sự bóc lột lâu đời của đế quốc và phong kiến, dân tộc ta đã đứng lên kháng chiến chín năm  gian khổ chống thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện biên phủ chấn động địa cầu.

Thời kỳ 1955 - 1975

Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đứng trước một tình hình mới, cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước.

Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền kinh tế hết sức nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc không những làm tròn sứ mệnh là hậu phương lớn đối với miền Nam ruột thịt, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mà còn giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân.

Mặc dù trong khoảng thời gian 20 năm thì 11 năm miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu chống cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ, song kinh tế - xã hội vẫn đạt được bước phát triển nhất định.

Các ngành kinh tế quan trọng đều có tăng trưởng. Sản lượng lương thực qui thóc từ 3,76 triệu tấn năm 1955 tăng lên 5,49 triệu tấn năm 1975; đàn lợn từ 2,45 triệu con lên 6,75 triệu con. Trong sản xuất công nghiệp, nếu lấy năm 1955 làm gốc so sánh, đến năm 1975 giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 16,2 lần với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16,2%. Hầu hết các sản phẩm công nghiệp thiết yếu tính bình quân đầu người năm 1975 cao hơn nhiều so với năm 1955 như: điện gấp 13,8 lần; than gấp 4,8 lần; xi măng gấp 25,2 lần; giấy gấp 14,5 lần; vải gấp 4,8 lần; đường gấp 2,0 lần.

Hoạt động thương mại được chú trọng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 1975 so với năm 1955 tăng gấp 7,8 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng 21,3 lần; kim ngạch nhập khẩu tăng 11,8 lần. Tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu tăng từ 9,1% năm 1945 lên 17,0% năm 1955; riêng thời kỳ 1958 - 1964 đạt tỷ lệ 63,7%.

Cùng với phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng nâng lên. Lấy năm 1957 làm gốc so sánh, Quỹ tiêu dùng của nhân dân tính bình quân đầu người tăng 82,8%; thu nhập bình quân đầu người của gia đình công nhân viên chức tăng 48,5%; của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp tăng 73,8%.

Hoạt động giáo dục, y tế đạt được những thành tựu to lớn. Số người đi học năm 1955 là 1288,0 nghìn người thì đến năm 1975 đạt 6796,9 nghìn người, tăng gấp 5,3 lần so với năm 1955, trong đó trung học chuyên nghiệp là 2,8 nghìn người và 83,5 nghìn người, tăng gấp 29,8 lần, đại học là 1,2 nghìn và 61,1 nghìn người, tăng gấp 50,9 lần. Tính bình quân cho 1 vạn dân, năm 1955 có 949 người đi học thì đến năm 1975 có 2769 người, tăng gấp 2,9 lần, trong đó trung học chuyên nghiệp và đại học là 2,9 người và 59 người, tăng gấp 20,3 lần.

Thời kỳ 1976 - 1986

Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng, cách mạng miền Nam từng bước lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi to lớn. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba mươi năm qua kể từ khi đất nước thống nhất là chặng đường tìm tòi, sáng tạo, thử nghiệm, tổng kết của Đảng và nhân dân ta để xây dựng cương lĩnh cho cách mạng nước ta trong giai đoạn mới và đề ra chiến lược phát triển kinh tế lâu dài.

Vào những năm 1976 - 1985, chúng ta bước vào xây dựng đất nước trong điều kiện thách thức và thời cơ, khó khăn và thuận lợi đan xen. Chúng ta có thuận lợi đất nước thống nhất, hòa bình, nhưng chúng ta cũng có nhiều khó khăn khách quan như đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh lâu dài, xuất phát điểm nền kinh tế quá thấp kém, sự chống phá của cả thế lực phản động quốc tế và cũng có nhiều những khuyết điểm chủ quan như duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Những khó khăn khách quan và những khuyết điểm chủ quan đã không thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội như mong muốn mà ngược lại vào những năm giữa thập kỷ 80, nền kinh tế đất nước đi vào khủng hoảng trầm trọng mà biểu hiện là: (1) kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển. Nếu tính chung từ năm 1976 đến 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân hàng năm chỉ tăng ở mức 4,6%; thu nhập quốc dân tăng 38,8 bình quân hàng năm chỉ tăng 3,7% trong khi dân số tăng trung bình hàng năm 2,3%; (2) không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân sản xuất chỉ bằng 80 - 90% thu nhập quốc dân sử dụng; (3) siêu lạm phát hoành hành. Suốt trong thời kỳ 1976 - 1985 chỉ số giá bán lẻ hàng hóa năm sau so năm trước luôn tăng ở mức hai con số và giao động ở mức 19 - 92%. Năm 1986 lạm phát đạt đỉnh điểm với tốc độ tăng giá 774,7% và (4) đời sống nhân dân hết sức khó khăn thiếu thốn.

Thời kỳ 1986 - 2004

Trước những thách thức, khó khăn hết sức nặng nề của khủng hoảng kinh tế tưởng chừng khó vượt qua, bằng việc đúc rút kinh nghiệm của các bước thử nghiệm đổi mới cơ chế quản lý, Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đổi mới trong phát triển đất nước mà nội dung quan trọng có tính quyết định là thực hiện dân chủ trong đời sống kinh tế; chuyển cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đường lối đổi mới đúng đắn, hợp quy luật phát triển tạo nên động lực to lớn đã vực dậy nền kinh tế đang suy yếu trong khủng hoảng, giải phóng các lực lượng sản xuất, phát huy các tiềm năng của đất nước và thu được nhiều thành tựu to lớn.

Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng khá cao, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế. Từ năm 1991 đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng liên tục qua các năm với nhịp tăng bình quân hàng năm 7,5%. So với năm 1990, năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2,07 lần. Từ năm 2001 đến 2004 tổng sản phẩm trong nước có nhịp tăng trưởng bình quân hàng năm 7,25%. Như vậy liên tục trong hơn 14 năm qua, kinh tế Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực.

Do nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm nên tích luỹ của nền kinh tế ngày càng mở rộng. Năm 1990 tỷ lệ tích luỹ tài sản trong sử dụng tổng sản phẩm trong nước chiếm 14,36% thì đến năm 2004 tỷ lệ này đạt 35,58%.

Một trong những thành tựu kinh tế to lớn của thời kỳ đổi mới là phát triển sản xuất nông nghiệp. Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực tiêu biểu cho sự biến đổi kỳ diệu của công cuộc đổi mới. Trước năm 1986, bảo đảm khẩu phần lương thực cho người dân là nỗi lo toan thường xuyên của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước và toàn xã hội. Mặc dù đã tập trung nhiều cho phát triển nông nghiệp, nhưng sản lượng lương thực có hạt chỉ xoay quanh mức 16 - 17 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu khối lượng lớn lương thực cho nhu cầu trong nước, cao nhất là năm 1979 đã nhập 1,58 triệu tấn; nhưng khi đường lối đổi mới trong nông nghiệp đi vào cuộc sống; sản xuất lương thực đã có bước chuyển đột biến. Nếu sản lượng lương thực có hạt năm 1990 chỉ đạt 19,90 triệu tấn thì đến năm 2004 đã tăng lên 39,32 triệu tấn. Như vậy, sau 15 năm sản lượng lương thực có hạt đã tăng thêm 19,4 triệu tấn, bình quân mỗi năm tăng thêm 1,29 triệu tấn. Do sản xuất lương thực tăng nhanh, nước ta không những đã bảo đảm được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn dành khối lượng khá lớn cho xuất khẩu. Nếu năm 1989, xuất khẩu được 1,42 triệu tấn gạo thì đến năm 2004 đạt 4,06 triệu tấn, đưa nước ta vào hàng các nước đứng đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới. Ngành chăn nuôi cũng có bước phát triển nhanh. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2004 so với năm 1990 tăng gấp 2,28 lần; nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 6,06%.

Sản xuất công nghiệp sôi động hơn do các thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển.

Giá trị sản xuất công nghiệp trong cả giai đoạn luôn đạt mức tăng trưởng cao góp phần quan trọng đóng góp cho mức tăng chung. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 so với năm 1990 tăng gấp 6,5 lần, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 14,3%, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng gấp 4,73 lần và nhịp độ tăng bình quân 11,74%; kinh tế ngoài nhà nước gấp 6,25 lần và nhịp độ tăng bình quân 13,98%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng gấp 13,88 lần và nhịp độ tăng bình quân 20,07%. Những sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư đều tăng cả chất lượng và số lượng đã đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước và tham gia xuất khẩu. Năm 2004 than khai thác đạt 26,29 triệu tấn, gấp 5,7 lần năm 1990; điện sản xuất 46,05 tỷ kwh, gấp 5,24 lần; dầu thô khai thác 20,05 triệu tấn, gấp 7,43 lần; xi măng 25,33 triệu tấn, gấp 10,0 lần; thép cán 2,93 triệu tấn gấp 29 lần; phân hóa học 1,45 triệu tấn, gấp 4,1 lần; giấy bìa 78,1 vạn tấn, gấp 10 lần; vải lụa 518,2 triệu mét, gấp 1,63 lần; đường mật 1,37 triệu tấn, gấp 4,2 lần; lắp ráp ti vi 2,48 triệu chiếc, gấp 17,6 lần; quần áo may sẵn 784,05 triệu chiếc, gấp 6,26 lần; xà phòng giặt 45,9 vạn tấn, gấp 8,37 lần; bia 1166,4 triệu lít, gấp 12,4 lần; ô tô lắp ráp 42,65 nghìn chiếc (năm 1990 chưa có lắp ráp ô tô); xe máy lắp ráp 1,57 triệu chiếc (năm 1990 chưa có lắp ráp xe máy).

Kinh tế đối ngoại được rộng mở theo phương châm Việt Nam muốn làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước. Tính tới tháng 7 - 2000 nước ta ký Hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, đưa tổng số nước có quan hệ ngoại thương với nước ta từ 50 nước năm 1990 lên 170 nước năm 2000. Năm 2004 tổng mức lưu chuyển ngoại thương nước ta đạt 54,46 tỷ USD tăng gấp 11,34 lần so với mức 5,10 tỷ USD năm 1990 trong đó xuất khẩu 26,50 tỷ USD tăng 11,02 lần; nhập khẩu 31,95 tỷ USD, tăng gấp 11,61 lần. Nhịp độ tăng bình quân hàng năm tổng mức lưu chuyển ngoại thương thời kỳ 1991 - 2004 đạt 18,94% trong đó xuất khẩu 18,70%; nhập khẩu 19,14%.

Do kinh tế đạt mức tăng trưởng cao và liên tục nhiều năm liền nên đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của dân cư được cải thiện rõ rệt.

Sự nghiệp giáo dục đạt nhiều thành tựu. Tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lên biết đọc, biết viết đã tăng từ 88% năm 1989 lên 91% năm 1999. Năm 2000 nước ta đã hoàn thành chương trình mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Giáo dục trung học chuyên nghiệp và đại học có bước mở rộng nhanh về quy mô đào tạo. Năm 1990 nước ta có 105,9 nghìn học sinh trung học chuyên nghiệp, tính bình quân cho 1 vạn dân có 16 học sinh thì đến năm 2004 là 465,3 nghìn và 97 học sinh. Năm 2004 so với năm 1990, số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 4,39 lần. Giáo dục đại học, cao đẳng năm 1990 có 93,04 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng, tính bình quân 1 vạn dân có 14 sinh viên thì đến năm 2004 là 1319,8 nghìn sinh viên và 161 sinh viên. Năm 2004 so với năm 1990 số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 14,2 lần.

Sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm. Hệ thống y tế đã được phát triển từ tuyến cơ sở tới trung ương với nhiều loại hình dịch vụ y tế đã tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn các dịch vụ y tế phù hợp. Năm 1990, tính bình quân 1 vạn dân có 3,5 bác sĩ, đến năm 2004 là 6,1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi năm 1990 từ 51,5% đến năm 2004 còn 26,7%. Chỉ số về sức khoẻ bà mẹ và trẻ em có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ tử vong của trẻ em đã giảm xuống bằng với mức phổ biến ở những nước có thu nhập đầu người cao gấp 2-3 lần Việt Nam. Năm 2003 tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi chỉ còn 26%0. Tuổi thọ bình quân tăng từ 64 tuổi năm 1990 lên 68 tuổi năm 2000.

Cùng với thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được những kết quả xuất sắc trong xóa đói giảm nghèo. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã thành công trong việc giải phóng sức sản xuất của dân cư nông thôn và khuyến khích họ tự mình phấn đấu cải thiện cuộc sống. Tính theo chuẩn nghèo chung, tỷ lệ nghèo đã giảm từ trên 70% năm 1990 xuống còn 32% năm 2000 và 28,9% vào năm 2001 - 2002. Như vậy so với năm 1990, năm 2000 Việt Nam đã giảm 1/2 tỷ lệ nghèo và về điều này nước ta đã đạt được mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ do Quốc tế đặt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo trong giai đoạn 1990 - 2015.

60 năm qua, kể từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu hết sức to lớn. Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng đề ra và lãnh đạo đã đưa nước ta bước vào một thời kỳ phát triển mới. Từ những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX và nhất là từ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã làm cho đất nước ta "từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị trí ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa." (Trích báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng)

 

TBT. Nguyễn Bá Khoáng

 
CÁC TIN KHÁC
  Tổng cục Thống kê tiếp và làm việc với tân Trưởng Đại diện Văn phòng UNFPA Việt Nam (21/11/2019)
  Hội thảo đóng góp ý kiến về phương án và nội dung trưng bày phòng Truyền thống Ngành Thống kê (21/11/2019)
  Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế JICA Nhật Bản tại Việt Nam thăm và làm việc với Tổng cục Thống kê (21/11/2019)
  Tổng cục Thống kê tiếp và làm việc với chuyên gia Dự án hỗ trợ hội nhập của EU dành cho khu vực ASEAN (ARISE Plus) (18/11/2019)
  Tổng cục Thống kê tiếp xã giao và làm việc với Đại diện trường trú mới của Văn phòng IMF tại Việt Nam (14/11/2019)