ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
FDI trong các năm tới với Việt Nam (10:39 20/02/2008)

Với Việt Nam

Cuối tháng 01/2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo “20 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam“. Trên các phương tin thông tin đại chúng (kể cả trên trang Web này) đã đưa nhiều thông tin về những kết quả đã đạt được và những bài học cùng những định hướng cho các năm tới. Chính vì vậy, trong bài này sẽ không nhắc lại nhiều những thông tin đó, nhưng sẽ nhắc lại một số thông tin khi bàn tới ngày mai.

FDI đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội - đặc biệt với nước ta thuộc nhóm các nước đang phát triển, có nền kinh tế thu nhập thấp (theo các tiêu chí phân loại của Liên hiệp quốc). 20 năm đã có hơn 9500 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm); riêng năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng số FDI trong 20 năm qua. Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội giảm dần: thời kỳ 1991-1995 chiếm 30%, thời kỳ 1996-2000: 23,4%, thời kỳ 2001-2007: 16,7% (tỷ trọng này giảm chủ yếu do sự phát triển nhanh của khối doanh nghiệp dân doanh).

FDI góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước, trong thời kỳ 2001-2005 khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, 2007 trên 1,5 tỷ USD; thu hút trên 1,2 triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp, góp phần tăng thêm các ngành nghề lao động mới, thay đổi cơ cấu ngành nghề cũng như nâng dần chất lượng chuyên môn của lực lượng lao động này.

FDI góp phần vào mức độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua ở mức độ cao (từ 2002-2004: trên 7,0%, 2005: 8,44%, 2006: 8,17%, 2007: 8,48%); góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (từ năm 2005 đến nay, công nghiệp, xây dựng chiếm trên 41% GDP, riêng 2007: 41,61% GDP), chuyển giao công nghệ tạo nên nhiều sản phẩm mới có chất lượng, có hàm lượng công nghệ cao, trong đó có các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; góp phần nhanh chóng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm kéo theo các vùng phụ cận; góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp không có FDI) nâng cao khả năng quản trị kinh doanh, khả năng cạnh tranh; góp phần nâng cao khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả lao động, vốn, tài nguyên,...

Với 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, FDI là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới ( không chỉ về kinh tế tiếp cận và mở rộng thị trường, mà còn về phát triển du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế,...); nói cách khác FDI góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế và các lĩnh vực khác trong khu vực và thế giới.

Trong thời gian tới, nước ta chủ trương thu hút nhiều hơn và nâng cao hiệu quả sử dụng FDI như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội  trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giầu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài“.

Để thực hiện các nhiệm vụ này, có quá nhiều việc phải làm, từ các chính sách đến cơ chế, từ các quy hoạch phát triển vùng, ngành đến các chuẩn bị các thông tin có tính hệ thống, đầy đủ mức độ chính xác cao và có tính minh bạch, và nhất là tập trung đầu tư vào hạ tầng cơ sở để đáp ứng các yêu cầu  của các nhà đầu tư nước ngoài (không ít nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã cảnh báo với hạ tầng cơ sở như hiện nay, với một số những chính sách và cơ chế liên quan đến việc giải phóng mặt bằng,... sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam), chuẩn bị nguồn nhân lực không chỉ về số lượng mà còn chất lượng và cơ cấu ngành nghề chuyên môn,... một cách đồng bộ và chỉ có như thế mới thu hút thêm vốn đầu tư đồng thời tăng nhanh tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện để sớm đưa các dự án đi vào hoạt động – đây không chỉ là nguyên tắc đầu tư của các nhà đầu tư mà cũng là điều mong muốn của nước nhận FDI và theo tôi tiến tới sẽ là điều kiện ( thí dụ quy định thời gian phải đưa dự án vào hoạt động sau khi được cấp giấy phép đầu tư) với các nhà đầu tư nước ngoài vì không tránh khỏi đã và sẽ có thêm các nhà đầu tư nước ngoài sau khi đã được cấp giấy phép đầu tư lại không tập trung đầu tư, mà coi đây là giữ chỗ trước, nhất là các dự án liên quan tới nhiều đất đai và địa thế dự án thuận tiện.

Ở nước ta, vốn đầu tư thực hiện so với vốn đầu tư đăng ký còn thấp và ít năm gần đây lại càng thấp hơn: tỷ lệ này với 10 quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm tới 82% vốn đầu tư còn hiệu lực chỉ là 34%. Vấn đề đặt ra cần nghiên cứu để có các biện pháp nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với vốn đăng ký và một trong các nội dung nghiên cứu là cần lý giải: Tại sao tỷ lệ này ở Việt Nam lại thấp? Tại sao tỷ lệ này ở các nước có FDI vào Việt Nam rất khác nhau, trong đó có các dự án của Hàn Quốc mới đạt 20,2%, Đài Loan 29,3%, Hoa Kỳ 26,9%, British Virginlsland 17,8%, nhưng các dự án của Hà Lan đạt tới 78,2%, của Nhật Bản 55,2% - và điều cần lưu ý là FDI được cấp giấy phép đầu tư của hai nước này chiếm tới 14% tổng FDI còn có hiệu lực của trên 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam; Tại sao tỷ lệ này ở nhiều địa phương rất thấp, nhưng có nhiều địa phương khá cao, như: Hải Phòng 49%, TP Hồ Chí Minh 38,3%, Đồng Nai gần 36% - FDI được cấp giấy phép đầu tư vào 3 thành phố và tỉnh trên chiếm tới 37,1% tổng FDI còn có hiệu lực đầu tư vào Việt Nam;... Chắc tỷ lệ thấp, theo tôi không chỉ do nước chủ nhà mà còn do các nhà đầu tư nước ngoài nữa...

Với thế giới

Nhu cầu FDI trên toàn thế giới tiếp tục tăng không chỉ với các nước đang phát triển, nước có thu nhập thấp mà ngay cả các nước phát triển, các nước công nghiệp, các nước có thu nhập cao. Đây là một đặc điểm khá nổi bật khác biệt của bức tranh FDI trên toàn thế giới đã được phác họa cho thời kỳ 2007-2011 được công bố trong“World Investment Prospects to 2011“.

Tại sao có sự khác biệt này? Theo lý giải, đây là nhu cầu tăng trưởng kinh tế của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu, đây là một phương thức duy nhất để đưa nước mình  thoát khỏi nước nghèo, thu nhập thấp, thoát khỏi là nước nghèo nợ nần nhiều (HIPC); còn với nhiều nước khác là để đưa nước mình đã giầu, đã mạnh lại giầu hơn, mạnh hơn. Mặt khác, từ 2006, nhất là từ 2007 và dự báo các năm tiếp theo xu thế M&A (mua lại và sát nhập) xuyên quốc gia đã và sẽ gia tăng (tổng giá trị M&A trên toàn cầu 6 tháng đầu năm 2007 đạt 2,8 nghìn tỷ USD bằng 1,5 lần 6 tháng đầu năm 2006), cùng với xu thế toàn cầu hóa và chuyển giao công nghệ. FDI không chỉ bổ xung thêm vốn đã thiếu và công nghệ lạc hậu của các nước nhận FDI mà còn với các nước đầu tư không những khai thác lợi thế ở các nước nhận đầu tư mà còn giúp tăng cường năng lực công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

Chính vì vậy, bức tranh FDI 2007-2011 sẽ là FDI sẽ đổ về nhiều hơn (so với các thời kỳ trước) phát triển, các nước công nghiệp, các nước giầu so với các nước đang phát triển, các nước mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN,...), tất nhiên các nước phát triển, đặc biệt các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) cũng sẽ đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài .

Trung bình một năm trong thời kỳ trên FDI sẽ lên tới 1500 tỷ USD, riêng năm 2011 sẽ lên trên 1600 tỷ USD (mức trung bình một năm thời kỳ 2002-2006 khoảng 843 tỷ USD). Theo xếp hạng 10 nước và lãnh thổ nhận FDI nhất đã thu hút tới gần 58% FDI trên toàn thế giới, mặc dù dân số các nước này chỉ chiếm gần 40% dân số thế giới, trung bình một người dân một năm nhận khoảng 864,1 USD*; trong 10 nước và lãnh thổ có 9 nước và lãnh thổ thuộc nhóm công nghiệp, có nền kinh tế thu nhập cao, chỉ duy nhất có Trung Quốc thuộc nhóm nước đang phát triển, có nền kinh tế thu nhập trung bình chỉ nhận trung bình một năm khoảng 66,8 USD

Dự báo dòng vốn FDI vào các nước

(trung bình một năm trong thời kỳ 2007-2011)

 

Tỷ USD

Xếp hạng

Tỷ lệ so với FDI toàn thế giới -%

GDP BQĐN  2004

Nhận FDI BQĐN-USD *

Hoa Kỳ

250,9

1

16,75

39739

 854,6

Anh

112,9

2

 7,54

35861

1891,2

Trung Quốc

  86,8

3

 5,79

  1269

   66,8

Pháp

  78,2

4

 5,22

33376

1303,3

Bỉ

  71,6

5

 4,78

33637

6884,5

Đức

  66,0

6

 4,41

32862

  799,0

Canađa

  63,2

7

 4,22

30714

1981,2

Hồng Công

  48,0

8

 3,20

23971

7058,8

Tây Ban Nha

  44,9

9

 2,99

23328

1056,5

Italia

  41,6

10

 2,77

28933

  719,7

Hà Lan

  38,5

11

 2,57

35415

2362,0

Nếu không tính Trung Quốc, 10 nước và vùng lãnh thổ thu hút nhiều FDI nhất ( kể cả Hà Lan), sẽ nhận 815,8 tỷ USD, chiếm tới 54,45% tổng FDI, trong khi dân số chỉ chiếm 10,34% và 56,8% GDP toàn cầu; GDPBQĐN của 10 nước và vùng lãnh thổ trên 35,1 nghìn USD, BQĐN thu hút tới 1233,6 USD FDI trong một năm. Nhật Bản tuy không trong TOP 10, mỗi năm cùng nhận khoảng 13,3 tỷ USD (xếp hạng 22).

Các quốc gia mới nổi lên, có GDP trên 600 tỷ USD (đứng thứ 12,13, 14 về GDP trong hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới), cũng thu hút được một lượng FDI nhất định: Braxin (27,5 tỷ USD), Mêhicô (22,7 tỷ USD), Ấn Độ ( 20,4 tỷ USD).           

Ngược lại, các quốc gia có GDP BQĐN dưới 1000 USD, như: Việt Nam, Ấn Độ, Pakitxtan, Nigiêria, Kênia, Bănglađét,... BQĐN đều thu hút chưa đến 100 USD FDI trong một năm, thậm chí chưa đến 5 USD, như: Bănglađét, Kênia.

Có khoảng 75 quốc gia và vùng lãnh thổ thu hút FDI từ 1 tỷ USD trở lên trong một năm, thì có một số nước chỉ thu hút vài trăm triệu USD như Cu Ba (0,5 tỷ USD), Xrilanca (0,3 tỷ USD), Bănglađét (0,7 tỷ USD),... và cùng có hàng chục nước và vùng lãnh thổ không thu hút FDI.

Cũng theo World Investment Prospects to 2011, các nước Đông Nam Á vẫn tiếp tục thu hút FDI nhưng theo chiều hướng chậm lại, điển hình như Việt Nam chỉ thu hút khoảng 6,5 tỷ USD trong một năm, chỉ bằng 1/3 mức đã đạt được trong năm 2007, và gấp hơn 1,6 lần mức BQ thu hút FDI trong một năm trong suốt thời kỳ 20 năm đầu tư nước ngoài ở nước ta. Đây là một con số để chúng ta tham khảo khi đề ra mục tiêu thu hút FDI trong các năm tới.

Bức tranh triển vọng thu hút FDI BQ trong một năm của thời kỳ 2007-2011 của một số nước ASEAN như sau:

Dự báo dòng vốn FDI vào các nước

(trung bình một năm trong thời kỳ 2007-2011)

 

Tỷ USD

Xếp

hạng

Tỷ lệ so với FDI toàn thế giới -%

GDP

BQĐN

2004

Nhận FDI BQĐN-USD *

Xingapo

27,1

15

1,81

25207

6452,4

Thái Lan

8,9

27

0,59

2537

139,4

Malaixia

6,8

34

0,45

2716

265,6

Inđônêxia

6,6

36

0,44

1193

30,2

Việt Nam

6,5

38

0,44

555

79,3

Philippin

2,4

55

0,16

1042

28,7

Nga và các nước Đông Âu cũng là các quốc gia thu hút được nhiều FDI. BQĐN* thu hút trong một năm của thời kỳ 2007-2011 ở các nước như sau: Nga: 217,9 USD ( tổng FDI BQ một năm nước Nga thu hút được khoảng 31,4 tỷ USD, xếp thứ 13), Ba Lan: 329,8 USD, Cadăcxtan: 446,7 USD, Cộng hòa Séc: 529,4 USD, Hunggary: 504,9 USD, Ucraina: 103,4 USD, Bungari: 333,3 USD, Xlôvakia: 407,4 USD, Adecbaigian: 192,8 USD, Extoonia: 259,2 USD, Lítva: 359,2 USD, Látvia: 434,8 USD.

Không có vốn FDI hỗ trợ cho vốn đầu tư xã hội cho mỗi quốc gia là điều đáng tiếc, nhưng đã có FDI (dù ít hay nhiều), vấn đề sử dụng nó như thế nào vừa có lợi cho các nhà đầu tư, vừa có lợi nhiều hơn cho quốc gia thu hút FDI mới là bài toán khó, nhưng không thể không giải cho đúng (!)

_____________

* Để dễ so sánh và để có đủ số liệu của nhiều nước, chúng tôi đều lấy số liệu dự báo FDI thu hút BQ trong một năm thời kỳ 2007-2011của từng nước chia (:) cho dân số bình quân năm 2004 của các nước tương ứng. Cũng vi những lý do trên, chúng tôi sử dụng con số GDP BQĐN năm 2004.

Tài liệu tham khảo:

- Tài liệu tại Hội thảo“ 20 năm đầu tư nước ngoài tại  Việt Nam“.

- World Investment Prospects to 2011.

- TCTK, Niên giám thống kê.                             

- NCEIF, Đặc san chuyên đề phục vụ lãnh đạo, số 38.

T.S Nguyễn Quán

 
CÁC TIN KHÁC
  Thông báo số 50/TB-HĐTNNTKVC về điểm phúc khảo môn Kiến thức chung kỳ thi nâng ngạch thống kê viên chính năm 2013 (Danh sách bảng điểm được gửi trực tiếp tới các đơn vị theo đường công văn) (24/04/2014)
  Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014 tại một số địa phương (02/04/2014)
  Vì sao có sự chênh lệch về số liệu thống kê xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan (02/04/2014)
  Tập huấn nghiệp vụ theo dõi và đánh giá thực hiện Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 tại Đồng Nai (31/03/2014)
  Cơ sở xây dựng chính sách dân số, nhà ở và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (31/03/2014)
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (23/12/2013)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921