Tiêu đề:

Những điểm mới trong Dự thảo Luật Thống kê (sửa đổi)

Nội dung:

Ngày 12-10-2015, Chính phủ đã hoàn tất để trình Quốc hội Dự thảo Luật Thống kê (sửa đổi) - dưới đây viết tắt là Dự thảo - với sự hoàn thiện hơn cả nội dung và hình thức thể hiện so với Luật Thống kê, cũng như so với dự thảo trước đó.

 

Luật Thống kê đã được Quốc hội thông qua ngày 17-6-2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2004. Sau hơn mười năm thực hiện, Luật Thống kê đã có những tác động tích cực đối với công tác thống kê; đồng thời, cũng bộc lộ một số bất cập cần điều chỉnh, bổ sung trong bối cảnh mới, như: Nhiều tổ chức, cơ sở nằm ngoài khu vực nhà nước thực hiện hoạt động thống kê và cung ứng dịch vụ thống kê; nhu cầu hiện đại hóa công nghệ, hoàn chỉnh thêm hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và bổ sung thêm các chỉ tiêu thống kê phản ánh chất lượng nền kinh tế; thống nhất về số liệu và mở rộng phổ biến kết quả thống kê nhà nước…

Về tổng thể, Dự thảo tăng 32 điều và bổ sung 2 chương mới, trong đó có sự bổ sung phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, sửa đổi những quy định hiện hành còn hạn chế, không thống nhất, không phù hợp với thực tế về tổ chức và hoạt động thống kê hiện nay và bổ sung các quy định về hoạt động thống kê mà Luật Thống kê năm 2003 chưa quy định.

Về phạm vi điều chỉnh, Dự thảo bổ sung quy định về mục đích, phạm vi, nguyên tắc, yêu cầu và lĩnh vực cấm trong hoạt động thu thập và phổ biến thông tin thống kê (bao gồm các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh) do hoạt động thống kê của các tổ chức, cá nhân ngoài hệ thống tổ chức thống kê nhà nước thực hiện. Qua đó, Dự thảo làm rõ các hệ thống thông tin thống kê ở Việt Nam, bao gồm: hệ thống thông tin thống kê quốc gia; hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành; hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh; hệ thống thông tin thống kê cấp huyện; làm rõ mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin thống kê và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các hệ thống thông tin thống kê;

Đồng thời, cụ thể hóa các nội dung: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành, Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

Việc bổ sung một số nội dung mới này là cần thiết và đúng đắn nhằm bảo đảm tính nhất quán trong hoạt động thống kê nhà nước, làm cơ sở bảo đảm cho thông tin thống kê nhà nước không mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính khách quan, trung thực, có độ tin cậy cao đối với người sử dụng.

Dự thảo không chỉ cụ thể hóa danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, mà còn phân công và phân cấp rõ ràng giữa trách nhiệm thu thập, tổng hợp và công bố của Cơ quan Thống kê T.Ư và bộ, ngành, địa phương bám sát 17 Mục tiêu và 169 chỉ tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc, giai đoạn từ 2016-2030; tham khảo Niên giám thống kê của một số tổ chức quốc tế (ILO, FAO,…) và chỉ tiêu thống kê một số nước, như: Canada, Hungary, Thụy Điển, Ba Lan, Mông Cổ, Newzealand, Nhật Bản, Singapore; tuân thủ theo nguyên tắc: bảo đảm quản lý, điều hành tầm vĩ mô, bảo đảm tính khả thi trong quá trình thực hiện và bảo đảm tính hội nhập và so sánh quốc tế.

Dự thảo đã bổ sung hình thức thu thập thông tin thống kê từ sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước (Mục 2, Chương III), trong khi Luật Thống kê năm 2003 chỉ quy định hai hình thức thu thập thông tin thống kê chủ yếu là từ điều tra thống kê và báo cáo thống kê. Sự bổ sung này cho phép Hệ thống thống kê nhà nước có thể khai thác cơ sở dữ liệu hành chính phục vụ cho hoạt động thống kê nhà nước, nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, đầy đủ về phạm vi, đáp ứng tính kịp thời và thường xuyên được cập nhật, tiết kiệm chi phí, đồng thời giảm bớt phiền hà, gánh nặng cho cả người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin.

Dự thảo đã nâng cao tính so sánh của thông tin thống kê với quốc tế trong hoạt động thống kê, nhằm bảo đảm tính có thể so sánh được của số liệu thống kê giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, đồng thời nâng cao vị thế thống kê Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, Dự thảo đã đưa mô hình bảy bước sản xuất thông tin thống kê thể hiện vào các nội dung quan trọng của Luật trên cơ sở tham khảo các mô hình sản xuất thông tin thống kê của Thống kê Châu Âu (Eurostat), Thống kê Thụy Điển,…; Quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và phân loại thống kê quốc gia được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam; khẳng định dữ liệu hành chính là một nguồn thông tin quan trọng, hữu ích cho hoạt động thống kê nhà nước.

Hơn nữa, đề cao yêu cầu hiện đại và khoa học trong ngành Thống kê, Dự thảo đã nâng từ quy định về áp dụng khoa học công nghệ vào thống kê trong Luật Thống kê 2003 thành chương riêng (Chương V). Phương pháp thống kê tiên tiến và hợp tác quốc tế. Những quy định mới trong chương này (nổi bật là về lĩnh vực ưu tiên đầu tư trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại, kết nối Hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành và các phương pháp thu thập và phổ biến thông tin tiên tiến…) là cơ sở mới cho phép rút ngắn được thời gian thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích thông tin; thông tin thu thập, xử lý bảo đảm chất lượng; sản phẩm thông tin tạo thành phù hợp với chuẩn thế giới, khu vực và bảo đảm tính so sánh.

Dự thảo đã bổ sung quy định về phân tích và dự báo thống kê, nâng tầm thống kê không chỉ đơn thuần là ghi chép số liệu thống kê, mà còn cũng cố thêm chức năng dự báo và tham mưu, tư vấn cả vĩ mô và vi mô…

Nhằm khắc phục chênh lệch số liệu thống kê giữa Cơ quan Thống kê T.Ư với địa phương và bộ, ngành, Dự thảo đã làm rõ hơn trách nhiệm và vai trò của Cơ quan Thống kê T.Ư trong việc thẩm định số liệu thống kê của bộ, ngành trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Trong trường hợp bộ, ngành không thực hiện ý kiến thẩm định của Cơ quan Thống kê T.Ư thì Cơ quan Thống kê T.Ư tự quyết định và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ (khoản 5 Điều 53).

Dự thảo đã xác định khá cụ thể lịch và trách nhiệm công bố thông tin thống kê (Điều 54). Đây là một bước tiến tích cực tới minh bạch hóa, tăng trách nhiệm và hiệu quả của ngành thống kê giúp các tổ chức, cá nhân chủ động tiếp cận, sử dụng thông tin thống kê nhà nước.

Để nâng cao chất lượng thông tin thống kê, Dự thảo đã phân tách những nội dung quan trọng của hoạt động thống kê thành cấp quốc gia và cấp bộ, ngành và làm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện; cụ thể: Quy định tên chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu thống kê quốc gia; Bổ sung quy định về phân loại thống kê quốc gia (Điều 23), nêu rõ danh sách các phân loại thống kê quốc gia dùng chung trong hoạt động thống kê; Bổ sung quy định các cuộc tổng điều tra thống kê quốc gia (Điều 28), nêu rõ danh sách các cuộc tổng điều tra, kỳ thu thập thông tin, cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức; Bổ sung quy định về dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước (Điều 36), nêu rõ danh sách cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành mà dữ liệu từ đó được cung cấp cho Cơ quan Thống kê T.Ư để sử dụng trong hoạt động thống kê nhà nước; Bổ sung quy định về chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia (Điều 45) nêu rõ tên chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia và đối tượng thực hiện; Bổ sung hành vi nghiêm cấm trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê và tăng quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ của điều tra viên thống kê và của tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê, cũng như tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Cơ quan Thống kê T.Ư trong lĩnh vực thống kê nhà nước, nhất là trong thẩm định các nội dung quan trọng trong hoạt động thống kê của bộ, ngành.

Nhằm giảm bớt phiền hà và gánh nặng cho tổ chức thực hiện chế độ báo cáo, Dự thảo bỏ quy định cụ thể về chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chỉ quy định chung là chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia và chế độ báo cáo thống kê cấp bộ, ngành. Đồng thời, bổ sung các mức độ của số liệu thống kê được công bố nhằm minh bạch hóa việc công bố thông tin thống kê của cơ quan thuộc hệ thống tổ chức thống kê nhà nước, cụ thể gồm: số liệu thống kê ước tính, số liệu thống kê sơ bộ, số liệu thống kê chính thức (khoản 2 Điều 54).

Bên cạnh đó, Dự thảo cũng bổ sung quy định cụ thể về sử dụng thông tin thống kê nhà nước đã được công bố (điểm a khoản 1 Điều 59); Bổ sung Điều 61. Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước; Bổ sung Điều 62. Trách nhiệm và quyền hạn của Cơ quan Thống kê T.Ư trong việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước và quy định nội dung chính, nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành thống kê (Điều 8).

Tuy nhiên, để hoàn thiện hơn, Dự thảo cần nghiên cứu bổ sung nội dung về quyền tiếp cận kết quả thống kê của người dân và doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu hợp pháp, sao cho kết nối và tương xứng với Hiến pháp năm 2013 và Luật Quyền tiếp cận thông tin đang dự thảo.

Đặc biệt, cần nghiên cứu mạnh dạn điều chỉnh mô hình chủ quản mới, theo đó, Cơ quan Thống kê T.Ư nên chuyển về trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội, không nên trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư để bảo đảm tính độc lập, khách quan, tránh tình trạng ngành Thống kê phụ thuộc cơ quan chủ quản vừa có chức năng quy hoạch, kế hoạch về phát triển kinh tế - xã hội, lại vừa chức năng đánh giá tình hình thực hiện các chính sách đó….

Ngoài ra, để dễ theo dõi, trong Điều 4. Giải thích từ ngữ, Dự thảo cần chú ý sắp xếp thứ tự những từ ngữ được giải thích theo một trật tự nhất định, hoặc theo nhóm cụm từ có tên gọi, nội dung gần nhau, hoặc theo thứ tự a,b,c…. để tránh trường hợp như từ số 5. Cơ sở dữ liệu thống kê và 21. Hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê được xếp quá xa nhau, trong khi chúng gần nhau và bổ sung cho nhau cả về tên gọi và nội hàm…

Dù sao, có thể khẳng định, với những điểm mới nổi bật trên, Dự thảo đã ghi nhận nhiều bước tiến tích cực và khi được Quốc hội thông qua, sẽ thắp lên nhiều kỳ vọng mới vào nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động ngành Thống kê Việt Nam trong bối cảnh mới…

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Nguồn: nhandan.com.vn

 

ItemPreview