English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế-xã hội 10 tháng năm 2016

  

  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc. Tính đến trung tuần tháng Mười, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 810,9 nghìn ha lúa mùa, chiếm 70,4% diện tích gieo cấy và bằng 96,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng thu hoạch được 400,3 nghìn ha, chiếm 73% diện tích gieo cấy và bằng 94,7%. Một số địa phương đã chủ động thu hoạch lúa mùa sớm để tránh ảnh hưởng của mưa bão cuối mùa, trong đó Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Phú Thọ đến nay đã thu hoạch xong; Hà Nam thu hoạch được 98,3% diện tích gieo cấy. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa mùa năm nay ở các tỉnh phía Bắc ước tính đạt 49,8 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với vụ mùa năm 2015 do ảnh hưởng của thời tiết không thuận[1]; sản lượng ước tính đạt 5,73 triệu tấn, giảm 106,6 nghìn tấn. 

Diện tích gieo cấy lúa mùa ở các tỉnh phía Nam đến thời điểm trên là 661,1 nghìn ha, bằng 93,9% cùng kỳ năm trước, trong đó 85,6 nghìn ha lúa mùa sớm đã cho thu hoạch, chiếm 12,9% diện tích xuống giống và bằng 94,3%. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa mùa giảm mạnh so với cùng kỳ: Cà Mau giảm 11,8 nghìn ha; Tây Ninh giảm 8,7 nghìn ha; Sóc Trăng giảm 3,7 nghìn ha; Kiên Giang giảm 2,8 nghìn ha.

Tính đến giữa tháng Mười, các địa phương trong cả nước đã thu hoạch xong 2.105,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 102,5% cùng kỳ năm 2015; năng suất lúa hè thu năm nay ước tính đạt 53,9 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng đạt 11,4 triệu tấn, giảm 49 nghìn tấn. Cùng với thu hoạch lúa hè thu, đến ngày 15/10/2016 các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch được 410,4 nghìn ha lúa thu đông, chiếm 54,8% diện tích gieo cấy và bằng 136,9% cùng kỳ năm trước; năng suất lúa trên diện tích đã thu hoạch ước tính tăng 0,5 tạ/ha - 1 tạ/ha so với vụ thu đông năm 2015. Nếu không chịu ảnh hưởng lớn về thời tiết và sâu bệnh thì sản lượng vụ thu đông có thể tăng trên 400 nghìn tấn so với năm 2015.

Tiến độ gieo trồng một số cây hoa màu chậm hơn cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của bão số 7 gây mưa lớn vào thời điểm chuẩn bị trồng cây vụ đông. Bên cạnh đó, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tiền công tăng cao cũng đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất cây vụ đông. Tính đến thời điểm 15/10/2016, cả nước gieo trồng được 94,3 nghìn ha ngô, bằng 96,9% cùng kỳ năm trước; 16,7 nghìn ha khoai lang, bằng 98,8%; 17,1 nghìn ha đậu tương, bằng 76,3%; 85,3 nghìn ha rau, đậu, bằng 97%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung phát triển ổn định. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2%-2,5%; đàn lợn tăng 3,7%-4%; đàn gia cầm tăng 4,5%-5%. Tính đến thời điểm 27/10/2016, cả nước không còn dịch cúm gia cầm và dịch tai xanh trên lợn; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Đắk Lắk.

 

 

Lâm nghiệp

Trong tháng Mười, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 23 nghìn ha, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.090 nghìn m3, tăng 9,5%; sản lượng củi khai thác đạt 1,8 triệu ste, tương đương cùng kỳ năm 2015. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 175 nghìn ha, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh có diện tích rừng trồng tập trung giảm mạnh: Hà Giang giảm 7.182 ha (giảm 36%); Tuyên Quang giảm 3.346 ha (giảm 24%); Bắc Kạn giảm 987 ha (giảm 12%). Sản lượng gỗ khai thác 10 tháng ước tính đạt 7.611 nghìn m3, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 23,1 triệu ste, giảm 0,4%.

Trong tháng, cả nước có 54 ha rừng bị thiệt hại, giảm 58,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 30 ha, tăng 57,9%; diện tích rừng bị chặt phá là 24 ha, giảm 78,2%. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 4.413 ha, gấp 2,3 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3.286 ha, gấp 3,1 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 1.127 ha, gấp 1,5 lần.

Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười ước tính đạt 558,1 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 384,9 nghìn tấn, tăng 1,2%; tôm đạt 94,7 nghìn tấn, tăng 6,4%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 308,3 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 208 nghìn tấn, giảm 0,3%; tôm đạt 77,4 nghìn tấn, tăng 7,1%.

Nuôi tôm nước lợ tương đối thuận lợi do những tháng gần đây có mưa nhiều làm độ mặn giảm, nhiệt độ giữa ngày và đêm ít thay đổi giúp tôm phát triển tốt. Trong tháng Mười, sản lượng tôm sú ước tính đạt 31,4 nghìn tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Sóc Trăng đạt 10 nghìn tấn, tăng 54%; Bạc Liêu đạt 8,3 nghìn tấn, tăng 6,7%; Kiên Giang đạt 3,1 nghìn tấn, tăng 47,1%. Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng ước tính đạt 43 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh có sản lượng tăng khá: Sóc Trăng đạt 16,9 nghìn tấn, tăng 41,2%; Cà Mau đạt 4,5 nghìn tấn, tăng 50%.

Nuôi cá tra trong tháng đã bớt khó khăn, giá cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng trở lại[2] do nhu cầu nhập khẩu cá tra từ thị trường Mỹ, EU và Trung Quốc tăng. Sản lượng cá tra thâm canh tháng Mười ước tính đạt 98,4 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 35,5 nghìn tấn, tăng 0,7%; An Giang đạt 24,5 nghìn tấn, tăng 8,4%; Bến Tre đạt 16,5 nghìn tấn, tăng 18,9%.

Mặc dù đang trong kỳ mưa bão nhưng hoạt động đánh bắt hải sản tại các ngư trường trên biển vẫn khá thuận lợi. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng của cả nước ước tính đạt 249,8 nghìn tấn, tăng 3,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 176,9 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 17,3 nghìn tấn, tăng 3,6%. Riêng sản lượng khai thác biển đạt 227,6 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 161 nghìn tấn, tăng 3,3%; tôm đạt 16,1 nghìn tấn, tăng 3,9%.

Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước đạt 5.495,7 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2.913,1 nghìn tấn, tăng 1,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.582,6 nghìn tấn, tăng 2,9% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.423,4 nghìn tấn, tăng 2,9%).

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười ước tính tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 11,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9%.

Tính chung 10 tháng năm 2016, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 9,8% của cùng kỳ năm 2015, chủ yếu do ngành khai khoáng tiếp tục giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,7%, đóng góp 7,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,8%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 5,5%, làm giảm 1,2 điểm phần trăm mức tăng chung[3].

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 17,7%; dệt tăng 16,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 14,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 5,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,5%; khai khoáng khác tăng 2,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,2%; khai thác than cứng và than non tăng 1,2%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 7,5%.

Trong 10 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 79,2%; thép cán tăng 25,7%; ô tô tăng 19,7%; thức ăn gia súc tăng 19,7%; sắt thép thô tăng 19%; xi măng tăng 14,9%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Giày, dép da tăng 1,3%; than đá tăng 0,4%; phân urê giảm 5,6%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 6,3%; đường kính giảm 6,5%; điện thoại di động giảm 9,7%; dầu thô khai thác giảm 9,7%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 9,9%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2016 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Nam tăng 29,2%; Thái Nguyên tăng 26,6%; Hải Phòng tăng 16,6%; Đà Nẵng tăng 12,2%; Cần Thơ tăng 11%; Bình Dương tăng 9,2%; Bắc Ninh, Hải Dương và Đồng Nai cùng tăng 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,3%; Hà Nội tăng 6,8%; Quảng Ninh tăng 5%; Vĩnh Phúc tăng 4,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 3,2%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2016 tăng 2,9% so với tháng trước tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 13,1%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất xe có động cơ tăng 19,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 16,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,2%; sản xuất đồ uống tăng 11,2%; dệt tăng 10,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,6%; sản xuất da, các sản phẩm có liên quan tăng 5,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 2,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 0,7%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 2%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/10/2016 tăng 8,9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2015 tăng 9,8%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Dệt tăng 4,6%; sản xuất trang phục tăng 4%; sản xuất thiết bị điện giảm 7,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 8,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 12,7%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 24,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 55,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 45%; sản xuất xe có động cơ tăng 42,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 24,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,1%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm 2016 là 67,6% (cùng kỳ năm trước là 73,6%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 128,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 113,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 106,8%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2016 tăng 4,8% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,7%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,2%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 7,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,7%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,2%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,2%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 26,6%; Hải Phòng tăng 12,5%; Bình Dương tăng 8,3%; Bắc Ninh tăng 4,6%; Vĩnh Phúc tăng 4,5%; Đồng Nai và Đà Nẵng cùng tăng 4,3%; Quảng Nam tăng 2,8%; Hà Nội tăng 2%; Hải Dương tăng 1,8%; Cần Thơ tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 2,2%; Quảng Ninh giảm 4,3%.

 

 

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]

Trong tháng Mười, cả nước có 10.314 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 81,5 nghìn tỷ đồng, tăng 28,2% về số doanh nghiệp và tăng 7,1% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 8,0 tỷ đồng, giảm 16,5%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 132,6 nghìn người, tăng 85,5%.

Trong tháng, cả nước có 1.976 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,8% so với tháng trước; có 6.376 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.596 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 4.780 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 17,5%; có 930 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, tăng 5%.

Tính chung 10 tháng, cả nước có 91.765 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 710,6 nghìn tỷ đồng[5], tăng 18,3% về số doanh nghiệp và tăng 46,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,7 tỷ đồng, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2015. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng là 1.061,3 nghìn người, bằng 91,7% cùng kỳ năm 2015. Trong 10 tháng năm nay còn có 22.486 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 38,8% so với cùng kỳ năm trước (10 tháng năm 2015 tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2014), nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng năm 2016 lên 114,3 nghìn doanh nghiệp. Điều này cho thấy khung khổ pháp lý mới cùng với các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển đã phát huy hiệu quả, giúp doanh nghiệp tìm thấy hướng đi, cơ hội phát triển mới.

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 10 tháng năm nay ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành tăng mạnh cả về số doanh nghiệp và số vốn đăng ký: Kinh doanh bất động sản tăng 93,5% về số doanh nghiệp và tăng 213,5% về vốn đăng ký; thông tin và truyền thông tăng 12,9% và tăng 158,2%; hoạt động dịch vụ khác tăng 38,5% và tăng 122,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,1% và tăng 98,7%; sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 22,1% và tăng 26,3%... Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy số doanh nghiệp thành lập mới giảm 16,2% nhưng số vốn đăng ký tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước; riêng lĩnh vực nghệ thuật, vui chơi và giải trí, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 10 tháng giảm 29,5%; số vốn đăng ký giảm 15,8%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 10 tháng là 9.295 doanh nghiệp, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2015 giảm 1,2% so với năm 2014), trong đó có 8.677 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,4% và tăng 21,2%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 3.758 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,4%); 2.759 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,7%); 1.558 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,8%); 1.217 công ty cổ phần (chiếm 13,1%) và 03 công ty hợp danh.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 10 tháng năm nay là 50.705 doanh nghiệp, giảm 15,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 17.574 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 29% và 33.131 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 28,8%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, có 6.865 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 39,1%); 6.058 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 34,5%); 2.956 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); 1.694 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,6%) và 01 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 13.917 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 42%); 10.278 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 31%); 6.025 công ty cổ phần (chiếm 18,2%) và 2.911 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 8,8%).

Tình hình đăng ký doanh nghiệp 10 tháng năm nay cho thấy những dấu hiệu tích cực của nền kinh tế khi số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng cao, số doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể giảm; doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể chỉ tăng nhẹ.

Đầu tư

Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong tháng đạt khá hơn những tháng đầu năm. Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục chỉ đạo và thực hiện đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình, dự án theo tinh thần Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười ước tính đạt 24.627 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 5.985 tỷ đồng, tăng 6,1%; vốn địa phương 18.642 tỷ đồng, tăng 17%. Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 204,9 nghìn tỷ đồng, bằng 78,6% kế hoạch năm và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2015, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 48,4 nghìn tỷ đồng, bằng 77,3% kế hoạch năm và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 15,6 nghìn tỷ đồng, bằng 86,9% và tăng 16,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 5.211 tỷ đồng, bằng 73,8% và tăng 9,7%; Bộ Y tế 2.206 tỷ đồng, bằng 71% và tăng 17,2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 2.187 tỷ đồng, bằng 67,9% và tăng 37,7%; Bộ Xây dựng 740 tỷ đồng, bằng 79,8% và giảm 46,9%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 575 tỷ đồng, bằng 64,2% và tăng 5,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 450 tỷ đồng, bằng 66,4% và tăng 0,2%; Bộ Công Thương 384 tỷ đồng, bằng 82,7% và tăng 15,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 234 tỷ đồng, bằng 80,7% và giảm 13%; Bộ Thông tin và Truyền thông 102 tỷ đồng, bằng 75,2% và giảm 29,8%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 156,5 nghìn tỷ đồng, bằng 79% kế hoạch năm và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 110,2 nghìn tỷ đồng, bằng 75,8% và tăng 16,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 38,1 nghìn tỷ đồng, bằng 84,4% và tăng 7,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 8,2 nghìn tỷ đồng, bằng 110% và giảm 0,1%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 25,6 nghìn tỷ đồng, bằng 84,1% kế hoạch năm và tăng 42,5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 13,4 nghìn tỷ đồng, bằng 75,8% và tăng 1,5%; Bình Dương 4.838 tỷ đồng, bằng 75,2% và tăng 31,8%; Nghệ An 4.572 tỷ đồng, bằng 79,1% và tăng 14,2%; Quảng Ninh 4.548 tỷ đồng, bằng 71,1% và tăng 13,9%; Vĩnh Phúc 4.182 tỷ đồng, bằng 79,2% và tăng 7,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu 3.743 tỷ đồng, bằng 61,1% và tăng 10,6%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/10/2016 thu hút 2.061 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 12.265,3 triệu USD, tăng 24,4% về số dự án và giảm 1,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Bên cạnh đó, có 967 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5.348,1 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn bổ sung trong 10 tháng năm nay đạt 17.613,4 triệu USD, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng ước tính đạt 12,7 tỷ USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong 10 tháng năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 8.389,4 triệu USD, chiếm 68,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 999,3 triệu USD, chiếm 8,1%; các ngành còn lại đạt 2.876,6 triệu USD, chiếm 23,5%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng năm nay đạt 12.848,1 triệu USD, chiếm 72,9% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 982,6 triệu USD[6], chiếm 5,6%; các ngành còn lại đạt 3.782,7 triệu USD, chiếm 21,5%.

Trong 10 tháng năm nay, cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Hải Phòng có số vốn đăng ký lớn nhất với 2.443,6 triệu USD, chiếm 19,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hà Nội 1.122 triệu USD, chiếm 9,1%; Bình Dương 1.098 triệu USD, chiếm 9%; Đồng Nai 995,5 triệu USD, chiếm 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh 792,5 triệu USD, chiếm 6,5%; Bắc Giang 622 triệu USD, chiếm 5,1%; Hà Nam 604 triệu USD, chiếm 4,9%.

Trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam 10 tháng năm nay, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 4.668 triệu USD, chiếm 38,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 1.269,7 triệu USD, chiếm 10,4%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 959,7 triệu USD, chiếm 7,8%; Trung Quốc 898,9 triệu USD, chiếm 7,3%; Đài Loan 824,1 triệu USD, chiếm 6,7%; Nhật Bản 727,6 triệu USD, chiếm 5,9%.

 

 

Thu, chi ngân sách Nhà nước

 Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2016 ước tính đạt 736,4 nghìn tỷ đồng, bằng 72,59% dự toán năm[7], trong đó thu nội địa đạt 590,4 nghìn tỷ đồng, bằng 75,2%; thu từ dầu thô đạt 30,8 nghìn tỷ đồng, bằng 56,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 111,9 nghìn tỷ đồng, bằng 65,1%. Thu ngân sách Nhà nước 10 tháng đạt thấp chủ yếu do ảnh hưởng của giá dầu giảm, đồng thời việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTAs) làm giảm thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu.

Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 61,2 nghìn tỷ đồng, bằng 122,5% dự toán năm; thuế bảo vệ môi trường 32 nghìn tỷ đồng, bằng 83,3%; thuế thu nhập cá nhân 51,6 nghìn tỷ đồng, bằng 81,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 115,5 nghìn tỷ đồng, bằng 80,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 118,2 nghìn tỷ đồng, bằng 74,3%. Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 148,7 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 58% dự toán năm, chủ yếu do các tập đoàn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến dầu, khí, than, khoáng sản và thủy điện gặp khó khăn.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2016 ước tính đạt 924,8 nghìn tỷ đồng, bằng 72,63% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 154,1 nghìn tỷ đồng, bằng 60,4%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đạt 643,2 nghìn tỷ đồng, bằng 78,1%; chi trả nợ và viện trợ đạt 122,4 nghìn tỷ đồng, bằng 78,9%.

Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 295,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 223,1 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% và tăng 8,7%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 35,8 nghìn tỷ đồng, tăng 0,02% và tăng 15,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,7 nghìn tỷ đồng, giảm 7,6% và giảm 2,4%; doanh thu dịch vụ khác đạt 33,7 nghìn tỷ đồng, giảm 0,2% và tăng 8,8%.

Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 2.896,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% (thấp hơn mức tăng 9,7% cùng kỳ năm 2015), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,4% (cùng kỳ năm 2015 tăng 8,5%). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng ước tính đạt 2.201,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 76% tổng mức và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành hàng tăng: Lương thực, thực phẩm tăng 10,6%; may mặc tăng 8,3%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,3%; phương tiện đi lại tăng 2,7%; riêng vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 1,4%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng ước tính đạt 336,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của một số địa phương tăng khá: Bình Dương tăng 15,9%; Đà Nẵng tăng 13,4%; Hải Phòng tăng 12,6%; Hà Nội tăng 12,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,9%. Một số địa phương có doanh thu giảm: Hoà Bình giảm 15,5%; Hà Tĩnh giảm 15,1%; Nghệ An giảm 7,8%; Phú Thọ giảm 5,2%; Lai Châu giảm 3,8%.

Doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng năm nay ước tính đạt 27 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 11,7%; Bình Thuận tăng 7,8%; Ninh Bình tăng 7,5%; Hà Nội tăng 7,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,4%. Một số địa phương doanh thu giảm mạnh: An Giang giảm 11,3%; Lâm Đồng giảm 10,1%.

Doanh thu dịch vụ khác 10 tháng ước tính đạt 331,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,5% tổng mức và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2015. Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Cần Thơ tăng 17,5%; Quảng Ninh tăng 14,3%; Bắc Giang tăng 8,2%; Hưng Yên tăng 7,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,5%.

 

 

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Chín đạt 15.418 triệu USD, cao hơn 418 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 513 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 78 triệu USD; sắt thép cao hơn 45 triệu USD; gạo cao hơn 38 triệu USD; thủy sản cao hơn 36 triệu USD; hàng dệt may thấp hơn 133 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng thấp hơn 51 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười ước tính đạt 15,50 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,43 tỷ USD, tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 11,07 tỷ USD, giảm 0,8%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm so với tháng trước: Điện thoại và linh kiện giảm 3,9%; hàng rau, quả giảm 17,9%; sắt thép giảm 25,2% (lượng giảm 25%). Bên cạnh đó, một số mặt hàng chủ lực có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh: Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,3%; thủy sản tăng 8,1%; giày dép tăng 7,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười tăng 8,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 9,2%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Rau quả tăng 36,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 25,9%; hàng dệt, may tăng 7,3%.

Tính chung 10 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 144,1 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 41,4 tỷ USD, tăng 4,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 102,7 tỷ USD, tăng 8,1%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng gia công, lắp ráp (với tỷ trọng lớn thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 28,3 tỷ USD, tăng 10,3%; dệt may đạt 19,9 tỷ USD, tăng 5,2%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 14,8 tỷ USD, tăng 15,6%; giày dép đạt 10,4 tỷ USD, tăng 6,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 8,3 tỷ USD, tăng 24,9%.

Một số mặt hàng nông sản và nguyên liệu thô có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Gạo đạt 1,9 tỷ USD, giảm 16,3% (lượng giảm 20,6%); dầu thô đạt gần 2 tỷ USD, giảm 39,6% (lượng giảm 22,2%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 809 triệu USD, giảm 26,5% (lượng giảm 13,2%); hóa chất đạt 763 triệu USD, giảm 1,0%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 10 tháng năm 2016, Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 31,8 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2015. Tiếp đến là EU đạt 27,3 tỷ USD, tăng 7,4%; Trung Quốc đạt 17,3 tỷ USD, tăng 23,9%; Nhật Bản đạt 12 tỷ USD, tăng 3,4%; Hàn Quốc đạt 9,5 tỷ USD, tăng 29,1%; riêng xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 14,2 tỷ USD, giảm 7,6%.

Về sự cố Galaxy Note 7: Trong tháng Chín, sự cố lỗi pin của sản phẩm Galaxy Note 7 của Samsung dẫn đến quyết định của Công ty là thu hồi, ngừng xuất khẩu sản phẩm này nên kim ngạch xuất khẩu hàng điện thoại và linh kiện (trong đó xuất khẩu của Công ty Samsung chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nhóm hàng này) được dự báo sẽ sụt giảm. Thực tế cho thấy, sự cố Galaxy Note 7 có ảnh hưởng đến hoạt động của Samsung Việt Nam, làm giảm lợi nhuận nhưng hiện tác động chưa đáng kể đến kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này. Nguyên nhân là do một phần sản phẩm Galaxy Note 7 được phân phối ngay tại thị trường trong nước, trong khi xuất khẩu sản phẩm này hiện chiếm tỷ trọng không lớn. Mặt khác, Samsung Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu các dòng sản phẩm điện thoại khác để bù vào sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của Galaxy Note 7. Trong 15 ngày đầu tháng Mười, kim ngạch xuất khẩu của riêng nhóm hàng điện thoại và linh kiện đạt 1,35 tỷ USD, tăng 2,1% so với 15 ngày đầu tháng 10/2015. Ước tính kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện thoại và linh kiện tháng 10/2016 tăng 5% so với cùng kỳ năm 2015.

Dự báo sự cố Galaxy Note 7 sẽ tác động trực tiếp đến việc giảm kim ngạch xuất khẩu nói chung, nhưng mức độ sẽ không lớn. Sự cố này cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp tới việc tiêu thụ và xuất khẩu các dòng sản phẩm khác của Samsung. Tuy nhiên, với thế mạnh về kiểu dáng và giá cả cạnh tranh, dự báo mức độ tác động giảm kim ngạch xuất khẩu trong hai tháng còn lại của năm 2016 sẽ không nhiều (có thể làm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của cả năm 2016 giảm khoảng 0,3 điểm phần trăm).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng Chín đạt 14.554 triệu USD, thấp hơn 546 triệu USD so với số ước tính, trong đó: Điện tử máy tính và linh kiện thấp hơn 163 triệu USD; vải thấp hơn 90 triệu USD; kim loại thường khác thấp hơn 61 triệu USD; hóa chất thấp hơn 35 triệu USD; sản phẩm chất dẻo và sợi dệt cùng thấp hơn 34 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép thấp hơn 32 triệu USD; chất dẻo thấp hơn 28 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười ước tính đạt 15,70 tỷ USD, tăng 7,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,30 tỷ USD, tăng 10,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9,40 tỷ USD, tăng 6,4%. Kim ngạch một số mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất tăng: Điện tử máy tính và linh kiện tăng 6,7%; vải tăng 18,4%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 174,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười tăng 13,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 12,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,1%.

Tính chung 10 tháng năm 2016, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 140,6 tỷ USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 57,4 tỷ USD, tăng 2,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 83,2 tỷ USD, tăng 1,9%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước giảm so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 22,5 tỷ USD, giảm 1,5%; điện thoại và linh kiện đạt 8,5 tỷ USD, giảm 6,3%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 4,2 tỷ USD, giảm 0,7%; xăng dầu đạt 3,8 tỷ USD, giảm 15,3% (lượng tăng 17,7%); thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,8 tỷ USD, giảm 1,1%; hóa chất đạt 2,5 tỷ USD, giảm 2,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,5 tỷ USD, giảm 18,4%; bông đạt 1,4 tỷ USD, giảm 2,1%; phân bón đạt 906 triệu USD, giảm 21,8%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 22,7 tỷ USD, tăng 17,5%; vải đạt 8,5 tỷ USD, tăng 1,3%; sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 4,9%; chất dẻo đạt 5,0 tỷ USD, tăng 2,6%; kim loại thường khác đạt 4,0 tỷ USD, tăng 16%; sản phẩm chất dẻo đạt 3,6 tỷ USD, tăng 15,6%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 10 tháng năm 2016, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 40,3 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước[8]; tiếp đến là Hàn Quốc đạt 25,8 tỷ USD, tăng 10,8%; ASEAN đạt 19,1 tỷ USD, giảm 2,8%; Nhật Bản đạt 12,2 tỷ USD, tăng 1,7%; EU đạt 9,1 tỷ USD, tăng 6,4 %; Hoa Kỳ đạt 6,7 tỷ USD, tăng 0,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Chín xuất siêu 864 triệu USD[9]. Tháng Mười ước tính nhập siêu 200 triệu USD, tính chung 10 tháng năm 2016 xuất siêu 3,52 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,96 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 19,48 tỷ USD.

 

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2016 tăng 0,83% so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 10,07% (dịch vụ y tế tăng 13,28%) do trong tháng có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[10] thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,5%). Nhóm giao thông tăng 2,02% do giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng vào các thời điểm 05/10/2016 và 20/10/2016 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 4,14%, tác động làm CPI chung tăng 0,17%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Giáo dục tăng 0,61%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,67% do có 8 tỉnh, thành phố thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính Phủ[11]; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,31%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%[12]; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; bưu chính viễn thông giảm 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2016 tăng 4,00% so với tháng 12/2015 và tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm nay tăng 2,27% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Lạm phát cơ bản tháng 10/2016 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng tăng 1,82% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 10/2016 giảm 1,69% so với tháng trước; tăng 15,13% so với tháng 12/2015 và tăng 11,22% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2016 tăng 0,07% so với tháng trước; giảm 0,92% so với tháng 12/2015 và giảm 0,54% so với cùng kỳ năm 2015.

 

 

Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Mười ước tính đạt 299,6 triệu lượt khách, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 14,1 tỷ lượt khách.km, tăng 14,6%. Tính chung 10 tháng, vận tải hành khách đạt 3.010 triệu lượt khách, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 142,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,8%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 2.825,2 triệu lượt khách, tăng 9,4% và 95 tỷ lượt khách.km, tăng 8,1%; đường biển đạt 5 triệu lượt khách, tăng 3,8% và 250,9 triệu lượt khách.km, tăng 1,4%. Vận tải bằng đường hàng không tăng mạnh, đạt 33,3 triệu lượt khách, tăng 28,5% và 41,6 tỷ lượt khách.km, tăng 21,2% do các hãng hàng không trong nước đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa. Vận tải đường sắt đạt 8,5 triệu lượt khách, giảm 11,4% và 3,1 tỷ lượt khách.km, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm 2015 do thời gian đi lại bằng phương tiện này chưa cải thiện nhiều, giá vé chưa cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải đường bộ.

Vận tải hàng hóa tháng Mười ước tính đạt 110,4 triệu tấn, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước và 20,2 tỷ tấn.km, tăng 6,1%. Tính chung 10 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.048 triệu tấn, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước và 199,3 tỷ tấn.km, tăng 4%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.020,7 triệu tấn, tăng 10,4% và 91,3 tỷ tấn.km, tăng 7,2%; vận tải ngoài nước đạt 27,3 triệu tấn, tăng 2,7% và 108 tỷ tấn.km, tăng 1,4%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 814,7 triệu tấn, tăng 11,7% và 49,3 tỷ tấn.km, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 179,1 triệu tấn, tăng 6,5% và 37,2 tỷ tấn.km, tăng 6,6%; đường biển đạt 49,8 triệu tấn, tăng 4,2% và 109,7 tỷ tấn.km, giảm 0,3%; riêng đường sắt đạt 4,2 triệu tấn, giảm 25,3% và 2,6 tỷ tấn.km, giảm 26,4% chủ yếu do ảnh hưởng từ sự cố sập cầu Ghềnh (Đồng Nai) những tháng trước đây và đợt mưa, lũ lớn tại các tỉnh miền Trung vừa qua.

 

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt 812 nghìn lượt người (là tháng thứ 4 liên tiếp đạt trên 800 nghìn lượt khách[13]), tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ châu Á tăng 26,8%; từ châu Âu tăng 14,7%; từ châu Mỹ tăng 11,9%; từ châu Úc tăng 11,8%; từ châu Phi tăng 10,5%. So với tháng trước, khách quốc tế đến nước ta giảm 0,1% (chủ yếu do ảnh hưởng của cơn bão số 7 và mưa lũ tại các tỉnh miền Trung), trong đó: Khách đến bằng đường hàng không giảm 0,3%; bằng đường bộ tăng 2,3%; bằng đường biển giảm 16,7%.

Tính chung 10 tháng, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 8.077,4 nghìn lượt người, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 6.777,1 nghìn lượt người, tăng 31,1%; đến bằng đường bộ đạt 1.178,8 nghìn lượt người, tăng 4,6%; đến bằng đường biển đạt 121,5 nghìn lượt người, giảm 14,9%.

Trong 10 tháng năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 5.874,7 nghìn lượt người, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính, đặc biệt là 2 thị trường chiếm tỷ trọng lớn là Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn tiếp tục tăng mạnh: Khách đến từ Trung Quốc đạt 2.228,5 nghìn lượt người, tăng 55,2%; Hàn Quốc 1.257 nghìn lượt người, tăng 40,1%; Nhật Bản 611,4 nghìn lượt người, tăng 10,8%; Đài Loan 423,4 nghìn lượt người, tăng 15,9%; Ma-lai-xi-a 319,9 nghìn lượt người, tăng 15,6%; Thái Lan 212,3 nghìn lượt người, tăng 30,8%; Xin-ga-po 199,7 nghìn lượt người, tăng 8,5%.

Khách đến từ châu Âu trong 10 tháng năm 2016 đạt 1.272,8 nghìn lượt người, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khách đến từ Liên bang Nga 330,8 nghìn lượt người, tăng 27,1%; Vương quốc Anh 209 nghìn lượt người, tăng 21,7%; Pháp 195,7 nghìn lượt người, tăng 13,3%; Đức 139,5 nghìn lượt người, tăng 18,5%; Hà Lan 53,4 nghìn lượt người, tăng 24,2%; Tây Ban Nha 47,8 nghìn lượt người, tăng 27,3%; I-ta-li-a 41,9 nghìn lượt người, tăng 30,3%.

Khách đến từ châu Mỹ 10 tháng năm nay đạt 600,3 nghìn lượt người, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 461,3 nghìn lượt người, tăng 14,2%. Khách đến từ châu Úc đạt 307,3 nghìn lượt người, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 270,1 nghìn lượt người, tăng 6,7%. Khách đến từ châu Phi đạt 22,3 nghìn lượt người, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2015.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

Một số tình hình xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Mười, cả nước có 2,3 nghìn hộ thiếu đói, giảm 20,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 9,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 21,1%. Tính chung 10 tháng năm 2016, cả nước có 253,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 1.050,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 14,9%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,9 nghìn tấn lương thực và khoảng 600 triệu đồng.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 10/2016, cả nước có 7,6 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 28 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 64 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (07 trường hợp tử vong); 06 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Tính chung 10 tháng, cả nước có 33,3 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 283 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 750 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (24 trường hợp tử vong); 47 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (05 trường hợp tử vong). Dịch sốt xuất huyết tiếp tục bùng phát mạnh tại các tỉnh vùng Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, riêng trong tháng 10 có thêm 13,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (05 trường hợp tử vong), nâng tổng số trường hợp mắc bệnh tính từ đầu năm đến nay là gần 82 nghìn người (26 trường hợp tử vong).

Trong tháng đã phát hiện 695 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/10/2016 là 229,5 nghìn người, trong đó 86,9 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 89 nghìn người.

Trong tháng Mười đã xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 267 người bị ngộ độc. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 111 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 3.292 người bị ngộ độc, trong đó 09 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/9 đến 15/10), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.838 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 801 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.037 vụ va chạm giao thông, làm 680 người chết, 526 người bị thương và 1.220 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và số vụ va chạm giao thông cùng giảm 7,1%; số người chết tăng 1,9%; số người bị thương tăng 6% và số người bị thương nhẹ giảm 8,3%.

Tính chung 10 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 17.249 vụ
tai nạn giao thông, bao gồm 8.274 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.975 vụ va chạm giao thông, làm 7.120 người chết, 4.811 người bị thương và 10.408 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 10 tháng năm 2016 giảm 7,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 11,9%); số người chết giảm 1,7%; số người bị thương giảm 1,9% và số người bị thương nhẹ giảm 14,3%. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 30 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 16 người bị thương và 34 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai[14]

Trong tháng 10/2016, thiên tai xảy ra tại nhiều địa phương trong cả nước làm 47 người chết, mất tích và 53 người bị thương; 140,3 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 7,3 nghìn ha lúa, 14,3 nghìn ha hoa màu, 2 nghìn ha cây lâm nghiệp, cây ăn quả và 6,3 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập, hư hỏng; 17,2 nghìn con gia súc, 661,2 nghìn gia cầm và hơn 150 tấn thủy sản bị chết. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính 2,6 nghìn tỷ đồng.

Đặc biệt, vào trung tuần tháng Mười tại các tỉnh miền Trung đã xảy ra đợt lũ lụt lịch sử, gây hậu quả nghiêm trọng tới sản xuất và đời sống của nhân dân. Theo báo cáo sơ bộ, tại các tỉnh miền Trung đã có 40 người chết, mất tích và 50 người bị thương (riêng Quảng Bình có 25 người chết, mất tích và 45 người bị thương); 135,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 3,4 nghìn ha lúa và 12,9 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do đợt lũ lụt vừa qua tại các tỉnh miền Trung ước tính khoảng 2,5 nghìn tỷ đồng. Ngay sau khi thiên tai xảy ra, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành và các địa phương thực hiện kịp thời công tác cứu trợ và hỗ trợ người dân miền Trung khắc phục hậu quả của thiên tai, từng bước ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó, các cơ quan, đoàn thể, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân cũng đang phát động nhiều chương trình quyên góp, ủng hộ thiết thực để chia sẻ với những mất mát, khó khăn của nhân dân các tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng do lũ lụt. 

Tính chung 10 tháng năm 2016, thiên tai đã làm 172 người chết, mất tích và 324 người bị thương; 3,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 236,2 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái; 234,7 nghìn ha lúa, 73,6 nghìn ha hoa màu, 120,1 nghìn ha cây lâm nghiệp, cây ăn quả và 30,1 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị ngập, hư hỏng; 54,6 nghìn con gia súc, 917,2 nghìn gia cầm và hơn 1 nghìn tấn thủy sản bị chết. Tổng giá trị thiệt hại trong 10 tháng năm nay ước tính gần 13,1 nghìn tỷ đồng.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng 10/2016, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.276 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 1.014 vụ với tổng số tiền phạt là 11,9 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm nay đã phát hiện 12.271 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 6.458 vụ với tổng số tiền phạt 440,7 tỷ đồng.

Trong tháng, cả nước xảy ra 200 vụ cháy, nổ, làm 06 người chết và 08 người bị thương, thiệt hại ước tính 98 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.660 vụ cháy, nổ, làm 96 người chết và 224 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1.156 tỷ đồng./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Hạn hán, thiếu nước tưới đầu vụ và ngập úng do ảnh hưởng của mưa bão.

[2] Khoảng 22.500 đồng/kg, là mức cao nhất trong năm.

[3] 10 tháng năm 2015 ngành khai khoáng tăng 9%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%.

[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[5] Trong 10 tháng năm 2016 còn có 1.345,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn, nâng tổng số đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 10 tháng đạt 2.055,7 nghìn tỷ đồng.

[6] Trong 10 tháng năm 2016 ngành kinh doanh bất động sản có 10 dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng số vốn điều chỉnh giảm 16,7 triệu USD.

[7] Thu cân đối ngân sách Trung ương đạt 63% dự toán; thu ngân sách địa phương đạt 86%.

[8] Nhập siêu từ Trung Quốc 10 tháng năm 2016 là 23 tỷ USD, giảm 14,2% so với cùng kỳ năm 2015. 

[9] Ước tính nhập siêu 100 triệu USD.

[10] Bao gồm: Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Dương, Long An, Trà Vinh .

[11] Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh, Bến Tre, An Giang.

[12] Lương thực tăng 0,03%, thực phẩm tăng 0,26% do nhu cầu tiêu dùng tăng cao vào mùa cưới và giá mặt hàng rau củ tăng mạnh do ảnh hưởng của mưa lũ ở các tỉnh miền Trung.

[13] Số khách quốc tế đến nước ta trong tháng Bảy là 846,3 nghìn lượt người; tháng Tám là 899,7 nghìn lượt người và tháng Chín là 813 nghìn lượt người.

[14] Chưa kể thiệt hại do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung Bộ,
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016
  Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2016
  Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2016
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2016