English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2018
 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc. Vụ lúa mùa năm 2018 cả nước gieo cấy được 1.689,7 nghìn ha, bằng 98,7% vụ mùa năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.105,7 nghìn ha, bằng 97,5%[1] (Đồng bằng sông Hồng đạt 516,5 nghìn ha, giảm 18,7 nghìn ha); các địa phương phía Nam đạt 584 nghìn ha, bằng 101,1%. Tính đến trung tuần tháng Mười, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 736,6 nghìn ha lúa mùa, chiếm 66,6% diện tích gieo cấy và bằng 95,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng thu hoạch 328,8 nghìn ha, chiếm 63,7% diện tích gieo cấy và bằng 92,4%. Thời tiết vụ mùa năm nay khá thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển, ước tính năng suất lúa mùa trên diện tích đã thu hoạch ở phía Bắc đạt 49,5 tạ/ha, tăng 3,3 tạ/ha so với vụ mùa năm trước. Nếu thời tiết từ nay tới cuối vụ thuận lợi, sản lượng lúa mùa toàn vụ ước tính đạt 5,5 triệu tấn, tăng 238,8 nghìn tấn so với vụ mùa năm 2017. Tại các tỉnh phía Nam, có 303,3 nghìn ha lúa mùa đã cho thu hoạch, chiếm 51,9% diện tích xuống giống và bằng 99,6% cùng kỳ năm trước; năng suất ước tính đạt 48,4 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha so với vụ mùa năm 2017; sản lượng toàn vụ ước tính đạt 2,8 triệu tấn, tăng 201 nghìn tấn.

Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trong cả nước đã cơ bản kết thúc sản xuất lúa hè thu với diện tích gieo trồng đạt 2.052,8 nghìn ha, giảm 13,7 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước[2]. Một số địa phương có diện tích lúa hè thu giảm nhiều: Tiền Giang giảm 4,1 nghìn ha; Ninh Thuận giảm 2,6 nghìn ha; Vĩnh Long giảm 1,9 nghìn ha; Hà Tĩnh giảm 1,4 nghìn ha. Tính đến ngày 15/10/2018, cả nước đã thu hoạch được 2.048,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 99,2% vụ hè thu năm 2017, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch được 1.600,1 nghìn ha, bằng 99,3%. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 54,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với vụ hè thu trước, nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu 2018 đạt 11,2 triệu tấn, giảm 47,7 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,7 triệu tấn, giảm 30,5 nghìn tấn.

Đến giữa tháng Mười, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 720,5 nghìn ha lúa thu đông, bằng 93,1% cùng kỳ năm trước[3], trong đó một số địa phương diện tích gieo cấy giảm mạnh: Đồng Tháp giảm 16,2 nghìn ha; Kiên Giang giảm 10,8 nghìn ha; Long An giảm 6,9 nghìn ha; An Giang giảm 5,4 nghìn ha. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch được 249,1 nghìn ha lúa thu đông, chiếm 34,6% diện tích gieo cấy và bằng 68,7% cùng kỳ năm trước. Nếu thời tiết từ nay tới cuối vụ thuận lợi, ước tính năng suất toàn vụ đạt 52,8 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha so với vụ thu đông năm trước; sản lượng ước tính đạt 3,9 triệu tấn, giảm 333,2 nghìn tấn do diện tích giảm ở hầu hết các địa phương.

Tính đến thời điểm 15/10/2018, cả nước gieo trồng được 71,5 nghìn ha ngô, bằng 87,7% cùng kỳ năm trước; 11,4 nghìn ha khoai lang, bằng 101,8%; 4 nghìn ha đậu tương, bằng 97,6%; 4,6 nghìn ha lạc, bằng 93,9%; 74,2 nghìn ha rau, đậu, bằng 105%.

Chăn nuôi gia súc và gia cầm nhìn chung ổn định. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2%; đàn lợn tăng 2,1%; đàn gia cầm tăng 5,6%. Tính đến thời điểm 25/10/2018, cả nước không còn dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh trên lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Đắk Lắk. Đáng lưu ý, bệnh dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp tại một số quốc gia, hiện nay dịch đã lây lan tới phía Nam của Trung Quốc do đó các cấp các ngành cần chủ động có biện pháp ngăn chặn bệnh dịch xâm nhập vào Việt Nam.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Mười, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 25,7 nghìn ha, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 9,4 triệu cây, tăng 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,2 triệu m3, tăng 6,8%; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, tăng 0,6%.

Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 186,9 nghìn ha, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 68,5 triệu cây, tương đương cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 10,3 triệu m3, tăng 10,1%; sản lượng củi khai thác đạt 20,4 triệu ste, giảm 1,4%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 1.016,5 nghìn m3, tăng 24,3%; Nghệ An đạt 530,7 nghìn m3, tăng 24,8%; Quảng Trị đạt 546,8 nghìn m3, tăng 22,7%; Phú Yên đạt 177,7 nghìn m3, tăng 18,3%; Khánh Hòa đạt 86,3 nghìn m3, tăng 35,7%.

Trong tháng, cả nước có 34,2 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 33,1 ha. Tính chung 10 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.237,2 ha[4], tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 732,5 ha, tăng 78,8%; diện tích rừng bị chặt, phá là 504,7 ha, giảm 33,8%.

c) Thủy sản

Trong tháng Mười, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 671,7 nghìn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 481 nghìn tấn, tăng 7,2%; tôm đạt 98,1 nghìn tấn, tăng 7,9%; thủy sản khác đạt 92,6 nghìn tấn, tăng 5%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 372,6 nghìn tấn, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 251,9 nghìn tấn, tăng 7%; tôm đạt 85 nghìn tấn, tăng 9,5%. Nuôi cá tra tiếp tục có thuận lợi về giá, thị trường tiêu thụ truyền thống như Mỹ và EU bắt đầu tăng do nhu cầu phục vụ dịp lễ Noel và Tết dương lịch nên nhiều hộ nuôi mở rộng quy mô sản xuất. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 118,6 nghìn tấn, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 42,6 nghìn tấn, tăng 4,5%; An Giang 28,4 nghìn tấn, tăng 18,8%; Cần Thơ 13,7 nghìn tấn, tăng 11%. Nuôi tôm nước lợ đạt khá, việc ứng dụng công nghệ[5] vào nuôi tôm đã cho năng suất cao. Sản lượng tôm sú trong tháng ước tính đạt 30,4 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 51,8 nghìn tấn, tăng 10%.

Thời tiết biển tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản của ngư dân. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng của cả nước ước tính đạt 299,1 nghìn tấn, tăng 6,7% so cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 280,2 nghìn tấn, tăng 7,1%.

Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.172,9 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.295,3 nghìn tấn, tăng 6,6%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.877,6 nghìn tấn, tăng 5,3% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.710,1 nghìn tấn, tăng 5,6%).

 

 
    2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười ước tính tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 9,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%.

Tính chung 10 tháng năm 2018, IIP ước tính tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn so với mức tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2017[6]. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,7%, đóng góp 9,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2,6%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 58%; sản xuất kim loại tăng 21,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,2%; dệt và sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy cùng tăng 13%; sản xuất các sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 12,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 3,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 6,3% (khai thác dầu thô giảm 12,1% và khai thác khí đốt tự nhiên bằng cùng kỳ năm trước); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi...) giảm 2,3%.  

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Xăng, dầu tăng 47,4%; sắt, thép thô tăng 40,5%; ti vi tăng 26,3%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 24,6%; Alumin tăng 23,5%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 21,4%; linh kiện điện thoại tăng 18,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 17,2%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Phân hỗn hợp NPK tăng 2,6%; thức ăn cho gia súc tăng 1,2%; sữa tươi tăng 0,7%; phân u rê tăng 0,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí bằng cùng kỳ năm trước; điện thoại di động giảm 3% (điện thoại thông minh giảm 5,3%); dầu thô khai thác giảm 12% (cùng kỳ năm 2017 giảm 10,8%).

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2018 của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Tĩnh là địa phương có tốc độ tăng cao nhất với mức 105,6% do có sự đóng góp của Tập đoàn Formosa, tiếp theo là Thanh Hóa tăng 30,3% chủ yếu do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018, Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương có mức tăng thấp nhất cả nước với 1,3% do khai thác dầu thô giảm. Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 25,6%; Vĩnh Phúc tăng 14,6%; Thái Nguyên tăng 12,2%; Bắc Ninh tăng 11,9%; Quảng Nam tăng 9,5%; Bình Dương tăng 9,4%; Hải Dương tăng 9%; Quảng Ninh tăng 8,8%; Đồng Nai tăng 8,7%; Cần Thơ tăng 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,9%; Đà Nẵng tăng 7,7%; Hà Nội tăng 7,3%.

Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/10/2018 tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,7%. Tại thời điểm trên, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,4%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,2%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4%.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 1/10/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 15,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 5,8%; Hà Nội tăng 5,7%; Đồng Nai tăng 5,2%; Quảng Ninh tăng 2,7%; Quảng Nam tăng 1,8%; Hải Dương tăng 1,5%; Vĩnh Phúc tăng 0,8%; Cần Thơ tăng 0,6%; thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương cùng tăng 0,4%; Thái Nguyên bằng cùng kỳ năm trước; Đà Nẵng giảm 6,4%; Bắc Ninh giảm 7,9%. 

    3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[7]

Trong tháng Mười, cả nước có 13,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 152,5 nghìn tỷ đồng, tăng 41,9% về số doanh nghiệp và tăng 79,9% về số vốn đăng ký so với tháng trước[8]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,7 tỷ đồng, tăng 26,8%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 105 nghìn người, tăng 23,5%. Trong tháng, cả nước còn có 3.453 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,1% so với tháng trước; có 6.684 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.911 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.773 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 35,2%; có 1.771 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 26,2%.

Tính chung 10 tháng, cả nước có 109.611 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.116 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% về số doanh nghiệp và tăng 9,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[9]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 4,7%. Nếu tính cả 2.045,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 10 tháng năm 2018 là 3.161,1 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 27.935 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng năm nay lên hơn 137,5 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 10 tháng năm 2018 là 924,8 nghìn người, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong 10 tháng năm nay có 38,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 34,8% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước; 14,1 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,9%), tăng 6%; 13,5 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,3%), tăng 0,6%; 8,3 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,6%), tăng 6,6%; 6,4 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,8%), tăng 14,8%; 5,8 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,3%), tăng 42,5%; 5,7 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,2%), tăng 12,5%; 3,9 nghìn doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 3,6%), giảm 20,3%...

Trong 10 tháng năm nay, một số vùng kinh tế có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 32,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 3% (vốn đăng ký đạt 325,6 nghìn tỷ đồng, tăng 32,2%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 15,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,7% (vốn đăng ký 134,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7%); Đồng bằng sông Cửu Long 7,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,1% (vốn đăng ký 90,7 nghìn tỷ đồng, tăng 69,1%); Đông Nam Bộ 46,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,1% (vốn đăng ký 508,3 nghìn tỷ đồng, giảm 3,3%). Các vùng còn lại có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước: Trung du và miền núi phía Bắc 4,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,6% (vốn đăng ký 38,3 nghìn tỷ đồng, giảm 14,7%); Tây Nguyên 2,7 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,3% (vốn đăng ký 18,3 nghìn tỷ đồng, giảm 8,6%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 10 tháng năm 2018 là 78.404 doanh nghiệp, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 24.467 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 24,7% và 53.937 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 62,6%[10]. Theo lĩnh vực hoạt động, có 9,6 nghìn doanh nghiệp trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 39,2%), tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước; 3,6 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,9%), tăng 25,8%; 3,1 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,5%), tăng 19,1%; 1,4 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,5%), tăng 26,7%... Đối với các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 19 nghìn doanh nghiệp (chiếm 35,3%), tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước; 8 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,7%), tăng 72,9%; 6,8 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,5%), tăng 79,9%; 2,9 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,5%), tăng 81,9%...

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 10 tháng năm 2018 là 13.307 doanh nghiệp, tăng 35,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 12.206 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,7% và tăng 35,9%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 5 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 48,3%; xây dựng có 1,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 51,7%. 

   4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười ước tính đạt 33,7 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Vốn trung ương 6,3 nghìn tỷ đồng, giảm 1,1%; vốn địa phương 27,4 nghìn tỷ đồng, tăng 22,1%. Tính chung 10 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 248,2 nghìn tỷ đồng, bằng 71,67% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 71,72% và tăng 7,1%), gồm có:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 45,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 14,6 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% và giảm 42,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 5.013 tỷ đồng, bằng 62,1% và tăng 9,9%; Bộ Y tế 1.958 tỷ đồng, bằng 59,2% và giảm 35,2%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 968 tỷ đồng, bằng 65,2% và tăng 52,8%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 796 tỷ đồng, bằng 58,7% và tăng 31,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 494 tỷ đồng, bằng 65,9% và tăng 14,6%; Bộ Xây dựng 206 tỷ đồng, bằng 75,5% và giảm 48,7%; Bộ Khoa học và Công nghệ 165 tỷ đồng, bằng 68,3% và tăng 58,9%; Bộ Công Thương 163 tỷ đồng, bằng 74,2% và giảm 14,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 93 tỷ đồng, bằng 69,8% và tăng 18%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 202,3 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% kế hoạch năm và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 141,7 nghìn tỷ đồng, bằng 69,3% và tăng 20%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 50,8 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4% và tăng 13,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 9,8 nghìn tỷ đồng, bằng 96% và tăng 10,1%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2018 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 28,3 nghìn tỷ đồng, bằng 74,2% kế hoạch năm và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 18,4 nghìn tỷ đồng, bằng 51,4%[11] và tăng 22,3%; Hải Phòng 8,1 nghìn tỷ đồng, bằng 89,1% và tăng 51,6%; Quảng Ninh 7,8 nghìn tỷ đồng, bằng 59,8% và tăng 38,9%; Bình Dương 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 74,2% và tăng 11,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu 5,3 nghìn tỷ đồng, bằng 81,1% và tăng 38,3%; Thanh Hóa 5,1 nghìn tỷ đồng, bằng 80,9% và tăng 32,2%; Đồng Nai 5,08 nghìn tỷ đồng, bằng 70,1% và tăng 22,5%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/10/2018 thu hút 2.458 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15.028,2 triệu USD, tăng 18,7% về số dự án và giảm 7,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 954 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 6.543,3 triệu USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 10 tháng đạt 21.571,5 triệu USD, giảm 8,5% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng năm nay ước tính đạt 15,1 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 10 tháng năm 2018 còn có 5.342 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 6,3 tỷ USD, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 889 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 2,2 tỷ USD và 4.453 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,1 tỷ USD.

Trong 10 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 6.855,6 triệu USD, chiếm 45,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.102,6 triệu USD, chiếm 34%; các ngành còn lại đạt   3.070 triệu USD, chiếm 20,4%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 10 tháng năm nay đạt 11.542,4 triệu USD, chiếm 53,5% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.192,2 triệu USD, chiếm 24,1%; các ngành còn lại đạt 4.836,9 triệu USD, chiếm 22,4%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1.737,3 triệu USD, chiếm 27,4% tổng giá trị góp vốn; ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 1.551,4 triệu USD, chiếm 24,5%; các ngành còn lại đạt 3.051,8 triệu USD, chiếm 48,1%.

Cả nước có 54 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 10 tháng năm nay, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 4.987,1 triệu USD, chiếm 33,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bà Rịa - Vũng Tàu 1.794,1 triệu USD, chiếm 11,9%; Đồng Nai 834,2 triệu USD, chiếm 5,6%; Bình Dương 795,7 triệu USD, chiếm 5,3%; thành phố Hồ Chí Minh 714,4 triệu USD, chiếm 4,8%; Hải Phòng 555,6 triệu USD, chiếm 3,7%; Tây Ninh 411,3 triệu USD[12], chiếm 2,7%; Ninh Thuận 387,5 triệu USD, chiếm 2,6%; Bắc Ninh 370,8 triệu USD, chiếm 2,5%.

Trong số 72 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 10 tháng, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 5.893,2 triệu USD, chiếm 39,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3.314,8 triệu USD, chiếm 22,1%; Xin-ga-po 1.061,3 triệu USD, chiếm 7,1%; Thái Lan 855,2 triệu USD, chiếm 5,7%; Trung Quốc 787,5 triệu USD, chiếm 5,2%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 652,5 triệu USD, chiếm 4,3%; Pháp 470,7 triệu USD, chiếm 3,1%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 10 tháng năm nay có 121 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 297,4 triệu USD; 26 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 47,1 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 10 tháng năm 2018 đạt 344,5 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 30,7% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 68,4 triệu USD, chiếm 19,9%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 45,9 triệu USD, chiếm 13,3%. Trong 10 tháng có 35 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước dẫn đầu với 97,6 triệu USD, chiếm 28,3% tổng vốn đầu tư; Ô-xtrây-li-a 50,3 triệu USD, chiếm 14,6%; Xlô-va-ki-a 35,9 triệu USD, chiếm 10,4%.

 5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2018 ước tính đạt 1.009 nghìn tỷ đồng, bằng 76,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 798,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,6%; thu từ dầu thô 48,5 nghìn tỷ đồng, bằng 135,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 158 nghìn tỷ đồng, bằng 88,3%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 110,2 nghìn tỷ đồng, bằng 66,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 131,9 nghìn tỷ đồng, bằng 59,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 153 nghìn tỷ đồng, bằng 70,2%; thu thuế thu nhập cá nhân 72,1 nghìn tỷ đồng, bằng 74,4%; thu thuế bảo vệ môi trường 34,1 nghìn tỷ đồng, bằng 70%; thu tiền sử dụng đất 92,6 nghìn tỷ đồng, bằng 107,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2018 ước tính đạt 1.051,2 nghìn tỷ đồng, bằng 69% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 728,9 nghìn tỷ đồng, bằng 77,5%; chi đầu tư phát triển 220,1 nghìn tỷ đồng, bằng 55,1%; chi trả nợ lãi 84,5 nghìn tỷ đồng, bằng 75,1%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 378,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 286,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% và tăng 14,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 44,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,3% và tăng 8,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, giảm 3,8% và tăng 5,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 44,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,1% và tăng 5,6%. Tính chung 10 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.612,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,31% (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,79%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm nay ước tính đạt 2.719,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,3% tổng mức và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 13%; may mặc tăng 12,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 11,6%; phương tiện đi lại tăng 11,6%. Một số địa phương có mức tăng khá: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,3%; Thanh Hóa tăng 13,2%; Bình Định tăng 12,7%; Thái Nguyên tăng 12,6%; Bắc Giang tăng 12,6%; Hải Dương tăng 11,9%; Nam Định và Hà Nội cùng tăng 11,8%; Lâm Đồng tăng 10,6%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng ước tính đạt 440,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% tổng mức và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Định tăng 14%; Lâm Đồng tăng 11,5%; Quảng Bình tăng 10,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,8%; Lào Cai tăng 8,2%; Cần Thơ tăng 7,3%; Kiên Giang tăng 5,4%; Hà Nội tăng 2,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng năm nay ước tính đạt 33,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có mức tăng khá: Hải Phòng tăng 21,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 19,3%; Nghệ An tăng 17,6%; Hà Tĩnh tăng 17,5%; Quảng Nam tăng 15,2%; Quảng Ninh tăng 15%; Lâm Đồng tăng 12,8%; Đà Nẵng tăng 11,2%; Hà Nội tăng 9,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 10 tháng ước tính đạt 420 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu của Bình Thuận tăng 13,5%; Thanh Hóa tăng 12,8%; Đà Nẵng tăng 12,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,6%; Kiên Giang tăng 11,4%; Kon Tum tăng 10,5%; Hà Nội tăng 4,6%.

 

 
   b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 9/2018 đạt 21.125 triệu USD, cao hơn 625 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 587 triệu USD; sắt thép cao hơn 95 triệu USD; xăng dầu cao hơn 56 triệu USD; hóa chất cao hơn 51 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 46 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 63 triệu USD; dệt may thấp hơn 100 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười ước tính đạt 20,80 tỷ USD, giảm 1,5% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,63 tỷ USD, tăng 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,17 tỷ USD, giảm 2,6%. Một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng có kim ngạch giảm, trong đó điện thoại và linh kiện giảm mạnh nhất với mức 21,4%; sắt thép giảm 17%; xăng dầu giảm 12,8%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao: Than đá tăng 45,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 26,5%; hóa chất tăng 21,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười tăng 2,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 0,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 21,8%; hàng dệt may tăng 21,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 6,6%.

Tính chung 10 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 200,27 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 56,82 tỷ USD, tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 143,45 tỷ USD (chiếm 71,6% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 13,2%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 40,7 tỷ USD, tăng 10,6%; hàng dệt may đạt 25,2 tỷ USD, tăng 17,1%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 24,3 tỷ USD, tăng 15,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 13,5 tỷ USD, tăng 28,3%; giày dép đạt 13 tỷ USD, tăng 9,7%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản cũng tăng khá: Thủy sản đạt 7,2 tỷ USD, tăng 5,9%; rau quả đạt 3,3 tỷ USD, tăng 14,4%; cà phê đạt 3 tỷ USD, tăng 1,1% (lượng tăng 21,5%); gạo đạt 2,6 tỷ USD, tăng 16,1% (lượng tăng 3,4%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Hạt điều đạt 2,8 tỷ USD, giảm 3,2% (lượng tăng 3,8%); cao su đạt 1,7 tỷ USD, giảm 7,6% (lượng tăng 13,4%); hạt tiêu đạt 683 triệu USD, giảm 32,8% (lượng tăng 8,9%). Riêng dầu thô tính chung 10 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 1,8 tỷ USD, giảm 24,8% (lượng giảm 45,4%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 10 tháng, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 43,7%; giày dép tăng 15,9%; hàng dệt may tăng 13,6%. Tiếp đến là EU đạt 34,9 tỷ USD, tăng 9,9%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 26,5%; hàng dệt may tăng 14,8%; điện thoại và linh kiện tăng 6,6%. Trung Quốc đạt 32,1 tỷ USD, tăng 21,3%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 117,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,3%; rau quả tăng 14,1%. Thị trường ASEAN đạt 20,6 tỷ USD, tăng 14,5%, trong đó gạo tăng 132,6%; sắt thép tăng 56,7%; hàng dệt may tăng 38,4%. Nhật Bản đạt 15,3 tỷ USD, tăng 10,6%, trong đó hàng dệt may tăng 28,3%; giày dép tăng 20,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 9,7%. Hàn Quốc đạt 15 tỷ USD, tăng 23,5%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 50,4%; hàng dệt may tăng 23,8%; điện thoại và linh kiện tăng 14,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 9/2018 đạt 19.513 triệu USD, thấp hơn 287 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 262 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 94 triệu USD; sắt thép thấp hơn 44 triệu USD; ô tô cao hơn 66 triệu USD; vải cao hơn 23 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười ước tính đạt 20,70 tỷ USD, tăng 6,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,15 tỷ USD, tăng 8,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,55 tỷ USD, tăng 4,4%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với tháng trước: Phân bón tăng 32,6%; cao su tăng 28,5%; thủy sản tăng 17,7%; kim loại thường tăng 16%; xe máy tăng 14,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 7,4%; đặc biệt là nhập khẩu dầu thô tăng mạnh 163,1%, chủ yếu do phục vụ sản xuất của Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Mười tăng 13,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Chất dẻo tăng 23,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 16%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 15,9%.

Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 193,84 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 77,50 tỷ USD, tăng 12%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 116,34 tỷ USD, tăng 11,7%. Một số mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu lớn trong 10 tháng: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 34,6 tỷ USD, tăng 13,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 27,5 tỷ USD, giảm 2%; điện thoại và linh kiện đạt 12,6 tỷ USD, giảm 1,6%; vải đạt 10,5 tỷ USD, tăng 12,9%; sắt thép đạt 8,3 tỷ USD, tăng 10,6%; chất dẻo đạt 7,4 tỷ USD, tăng 19,3%; xăng dầu đạt 6,8 tỷ USD, tăng 20%; kim loại thường đạt 6,2 tỷ USD, tăng 29,9%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 4,8 tỷ USD, tăng 4,6%; hóa chất đạt 4,2 tỷ USD, tăng 25,9%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 10 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 52,9 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó xăng dầu tăng 94,9%; vải tăng 17,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng tăng 10,2%; điện thoại và linh kiện tăng 3,9%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 39,2 tỷ USD, tăng 2,1%, trong đó sắt thép tăng 19,4%; xăng dầu tăng 17,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,1%. ASEAN đạt 26 tỷ USD, tăng 13,1%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 15,4%; xăng dầu tăng 13,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 8%. Nhật Bản đạt 15,5 tỷ USD, tăng 14,6%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 37,5%; điện thoại và linh kiện tăng 31,1%; sắt thép tăng 13,9%. EU đạt 11,2 tỷ USD, tăng 12,1%, trong đó vải tăng 25,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 16,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,3%. Hoa Kỳ đạt 10,6 tỷ USD, tăng 37,5%, trong đó thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 203,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 8,3%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Chín xuất siêu 1,6 tỷ USD[13]. Tháng Mười ước tính xuất siêu 100 triệu USD. Tính chung 10 tháng tiếp tục xuất siêu 6,4 tỷ xuất 6,4 tỷ USD [14], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,7 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 27,1 tỷ USD. 

   c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2018 tăng 0,33% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất với 1,55% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 6/10/2018 mặc dù trong tháng giá xăng dầu đã có đợt điều chỉnh giảm vào thời điểm 22/10/2018, làm giá xăng dầu tăng 3,45% (tác động CPI chung tăng 0,14%). Nhóm giáo dục tăng 0,58% (dịch vụ giáo dục tăng 0,65% làm CPI chung tăng 0,03%) do trong tháng có 7 địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,31%[15]; hàng hóa và dịch vụ ăn uống tăng 0,22% (lương thực tăng 0,15%; thực phẩm tăng 0,18%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,34%)[16]; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%.

CPI bình quân 10 tháng năm 2018 tăng 3,60% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 10/2018 tăng 3,54% so với tháng 12/2017 và tăng 3,89% so với cùng kỳ năm 2017.

Lạm phát cơ bản tháng 10/2018 tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,67% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm 2018 tăng 1,43% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2018 tăng 0,12% so với tháng trước; giảm 1,78% so với tháng 12/2017; giảm 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2018 tăng 0,20% so với tháng trước; tăng 2,80% so với tháng 12/2017 và tăng 2,82% so với cùng kỳ năm 2017.

 
    d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Mười ước tính đạt 394,2 triệu lượt khách, giảm 0,7% so với tháng trước và 18 tỷ lượt khách.km, tăng 0,2%. Tính chung 10 tháng năm 2018, vận tải hành khách đạt 3.840 triệu lượt khách, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước và 171,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,4%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 3.623,6 triệu lượt khách, tăng 10,5% và 118,6 tỷ lượt khách.km, tăng 10,8%; đường thủy nội địa đạt 161,4 triệu lượt khách, tăng 6,6% và 3,1 tỷ lượt khách.km, tăng 6,9%; đường biển đạt 6,2 triệu lượt khách, tăng 7% và 366,4 triệu lượt khách.km, tăng 7,2%; đường hàng không đạt khá với 41,3 triệu lượt khách, tăng 12,2% và 46,1 tỷ lượt khách.km, tăng 10,8%; riêng vận tải đường sắt đạt 7,5 triệu lượt khách, giảm 9,8% và 3,1 tỷ lượt khách.km, giảm 3,7%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười ước tính đạt 139,6 triệu tấn, tăng 0,3% so với tháng trước và 26,5 tỷ tấn.km, tăng 0,5%. Tính chung 10 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.350,3 triệu tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước và 252,5 tỷ tấn.km, tăng 7,3%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.322,2 triệu tấn, tăng 9,8% và 138,4 tỷ tấn.km, tăng 10,1%; vận tải ngoài nước đạt 28,1 triệu tấn, tăng 3% và 114,1 tỷ tấn.km, tăng 4,2%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 1.042 triệu tấn, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước và 68,8 tỷ tấn.km, tăng 11,7%; đường thủy nội địa đạt 238,9 triệu tấn, tăng 7,2% và 50,4 tỷ tấn.km, tăng 7,6%; đường biển đạt 64,4 triệu tấn, tăng 6,2% và 129,1 tỷ tấn.km, tăng 4,9%; đường sắt đạt 4,7 triệu tấn, tăng 1,8% và 3,3 tỷ tấn.km, tăng 12,1%; đường hàng không đạt 330,5 nghìn tấn, tăng 21,1% và 874,4 triệu tấn.km, tăng 19,6%.

 

 

e) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt 1.205,2 nghìn lượt người, giảm 0,6% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 3,2%; đến bằng đường bộ tăng 10,3%; đến bằng đường biển tăng 14,3%. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 17,6%, trong đó khách đến từ châu Á tăng 20%; từ châu Âu tăng 10,1%; từ châu Mỹ tăng 11,4%; từ châu Úc tăng 0,6%; từ châu Phi tăng 22,2%.

Tính chung 10 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 12.821,6 nghìn lượt người, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 10.361,2 nghìn lượt người, tăng 16,7%; đến bằng đường bộ đạt 2.260,3 nghìn lượt người, tăng 62,5%; đến bằng đường biển đạt 200,1 nghìn lượt người, giảm 2,3%.

Trong 10 tháng, khách đến từ châu Á đạt 9.989,5 nghìn lượt người, chiếm 77,9% tổng số khách du lịch đến nước ta, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 4.180,8 nghìn lượt người, tăng 28,8%; Hàn Quốc 2.867,4 nghìn lượt người, tăng 48,3%; Nhật Bản 684 nghìn lượt người, tăng 3,9%; Đài Loan 588,8 nghìn lượt người, tăng 14,8%; Ma-lai-xi-a 422,5 nghìn lượt người, tăng 12,6%; Thái Lan 269,4 nghìn lượt người, tăng 12,6%; Xin-ga-po 223,7 nghìn lượt người, tăng 3,9%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.670,6 nghìn lượt người, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 495,8 nghìn lượt người, tăng 8,4%; Vương quốc Anh 248 nghìn lượt người, tăng 6,1%; Pháp 231 nghìn lượt người, tăng 10,6%; Đức 171,6 nghìn lượt người, tăng 8,1%; Hà Lan 64,9 nghìn lượt người, tăng 7,9%; Tây Ban Nha 64,8 nghìn lượt người, tăng 12,5%; I-ta-li-a 53,4 nghìn lượt người, tăng 13,6%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 754,2 nghìn lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 576,5 nghìn lượt người, tăng 13,9%. Khách đến từ châu Úc đạt 372,6 nghìn lượt người, tăng 5,7%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 328,3 nghìn lượt người, tăng 6,4%. Khách đến từ châu Phi đạt 34,8 nghìn lượt người, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

7. Một số tình hình xã hội

a) Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Mười, cả nước có gần 2 nghìn hộ thiếu đói, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm 2017, tương ứng với 8,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tăng 20,1%, chủ yếu tập trung ở các tỉnh Lào Cai, Thanh Hóa và Gia Lai do ảnh hưởng của mưa lũ kéo dài. Tính chung 10 tháng năm 2018, cả nước có 102,7 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 409,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 39,6%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói hơn 7,4 nghìn tấn lương thực và 1,6 tỷ đồng.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Mười, cả nước có 29,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 16,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 51 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 59 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (2 trường hợp tử vong); 8 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (1 trường hợp tử vong); 59 trường hợp mắc bệnh ho gà; 10 trường hợp tử vong do bệnh dại và 680 người bị ngộ độc thực phẩm (trong đó riêng vụ ngộ độc thực phẩm tại một trường tiểu học ở Ninh Bình làm hơn 350 học sinh bị ngộ độc).

Tính chung 10 tháng năm 2018, cả nước có gần 72,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (6 trường hợp tử vong); 72,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (11 trường hợp tử vong); 507 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 689 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (20 trường hợp tử vong); 28 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (2 trường hợp tử vong); 595 trường hợp mắc bệnh ho gà (2 trường hợp tử vong); 72 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 67 trường hợp tử vong do bệnh dại và 2.237 người bị ngộ độc thực phẩm (10 người tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/10/2018 là 208,6 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 93,7 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,1 nghìn người.

c) Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/9 đến 15/10), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.603 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 808 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 795 vụ va chạm giao thông, làm 662 người chết, 430 người bị thương và 800 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Mười giảm 11,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 7,4% và số vụ va chạm giao thông giảm 14,7%); số người chết giảm 5,7%; số người bị thương giảm 14,5% và số người bị thương nhẹ giảm 19,4%. Đáng lưu ý, trong thời gian vừa qua đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng như: Vụ tai nạn xảy ra ngày 23/9 tại Điện Biên làm 1 người chết và 3 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 24/9 tại Sơn La làm 1 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 30/9 tại Bà Rịa - Vũng Tàu làm 2 người chết và 5 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường sắt xảy ra ngày 2/10 tại Hà Đông, Hà Nội làm 5 người bị thương, vụ tai nạn xe khách xảy ra ngày 8/10 tại Gia Lai làm 1 người chết và 6 người bị thương.

Tính chung 10 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 14.845 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 7.669 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 7.176 vụ va chạm giao thông, làm 6.674 người chết, 4.100 người bị thương và 7.449 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 10 tháng năm nay giảm 8,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 13,3%); số người chết giảm 2,2%; số người bị thương tăng 1,2% và số người bị thương nhẹ giảm 19,3%. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai

Thiệt hại thiên tai trong tháng 10/2018 chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lũ, triều cường, lốc xoáy và hạn hán. Thiên tai đã làm 2 người chết và 5 người bị thương; gần 100 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; hơn 1 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 50 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, thiên tai đã làm 185 người chết và mất tích, 134 người bị thương; gần 1,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi; 59,6 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, sạt lở, hư hỏng và tốc mái; hơn 172 nghìn ha lúa hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai trong 10 tháng ước tính hơn 8,8 nghìn tỷ đồng.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Mười, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.082 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 867 vụ với tổng số tiền phạt 10 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng đã phát hiện 12.070 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 11.131 vụ với tổng số tiền phạt hơn 171 tỷ đồng.

Trong tháng 10/2018, cả nước xảy ra 368 vụ cháy, nổ, làm 9 người chết và 11 người bị thương, thiệt hại ước tính 104 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, cả nước xảy ra 3.776 vụ cháy, nổ, làm 91 người chết và 235 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1,6 nghìn tỷ đồng./.

 

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 



[1] Diện tích gieo cấy lúa mùa miền Bắc giảm chủ yếu do chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác, trong đó chuyển sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản 9,7 nghìn ha; chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng hạ tầng, công trình thủy lợi…) là 4,6 nghìn ha; diện tích đất không sản xuất (bỏ hoang do khó khăn trong khâu tưới tiêu, thiếu lao động, ảnh hưởng của thời tiết, đất bị ô nhiễm…) là 18,7 nghìn ha. Mặt khác đã có 3,5 nghìn ha diện tích đất quay trở lại gieo cấy lúa do năm trước không thể gieo trồng vì thiếu nước; 0,5 nghìn ha do chuyển từ trồng cây hàng năm khác và nuôi trồng thủy sản; 0,7 nghìn ha do khai hoang.

[2] Trong đó: Diện tích chuyển sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản là 12,1 nghìn ha; diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp là 0,5 nghìn ha; diện tích đất không sản xuất là 10,7 nghìn ha. Bên cạnh đó đã có 8,7 nghìn ha diện tích đất quay trở lại gieo cấy lúa do năm trước không thể gieo trồng vì thiếu nước tưới hoặc bị nhiễm mặn và 0,9 nghìn ha do chuyển từ trồng cây hàng năm khác và nuôi trồng thủy sản.

[3] Do lịch xuống giống vụ hè thu năm nay muộn, kéo dài hơn năm trước và ảnh hưởng của mưa bão nên lũ về sớm, mức lên nhanh làm nhiều diện tích không thể gieo cấy.

[4] Cập nhật số liệu diện tích rừng bị thiệt hại 9 tháng năm nay là 1.203 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 731,4 ha và diện tích rừng bị chặt, phá là 471,6 ha.

[5] Bao gồm: nuôi tôm quảng canh cải tiến, mô hình khép kín tôm sú an toàn sinh học, nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh công nghệ cao/nuôi siêu thâm canh.

[6] 10 tháng năm 2017, ngành khai khoáng giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước; chế biến, chế tạo tăng 13%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,5%.

 

[7] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[8] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 16,5%; số vốn đăng ký tăng 27,9%.

[9] 10 tháng năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 43,8%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 25,5%.

[10] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể 10 tháng năm nay tăng cao có nguyên nhân do thời gian này các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[11] So với kế hoạch vốn mới điều chỉnh (tăng từ 29 nghìn tỷ đồng lên 35,9 nghìn tỷ đồng).

[12] Trong đó: Dự án sản xuất sợi tổng hợp do Trung Quốc đầu tư với tổng vốn đăng ký là 155 triệu USD; Dự án sản xuất da do Ma-cao (TQ) đầu tư với tổng vốn đăng ký là 59 triệu USD.

[13] Ước tính tháng Chín xuất siêu 700 triệu USD.

[14] Trong đó, 10 tháng nhập siêu từ Hàn Quốc 24,3 tỷ USD, giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 20,8 tỷ USD, tăng 0,9%; nhập siêu từ ASEAN 5,4 tỷ USD, tăng 8,1%; xuất siêu sang Hoa Kỳ 28,4 tỷ USD, tăng 5,8%; xuất siêu sang EU 23,7 tỷ USD, tăng 8,9%.

[15] Chủ yếu do giá gas tăng 3,17%; giá dịch vụ sửa chữa nhà tăng 0,56%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,03%; giá dầu hỏa tăng 2,87%. Riêng giá điện sinh hoạt giảm 0,06%.

[16] Chủ yếu do giá gạo tăng 0,99%; giá thịt lợn tăng 0,67% (làm CPI chung tăng 0,03%).

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2018