English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017

 

Kinh tế - xã hội nước ta những tháng đầu năm 2017 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tuy có những dấu hiệu khởi sắc nhờ triển vọng phục hồi từ các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu, nhưng tốc độ còn chậm và tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Hoạt động thương mại và đầu tư thế giới tăng trưởng chậm, thị trường tài chính, tiền tệ diễn biến phức tạp, những thay đổi về chính sách quốc tế của một số nước lớn là những yếu tố tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước, bên cạnh những kết quả nổi bật về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp trong năm 2016 cùng những tín hiệu khả quan về xuất khẩu, thu hút khách quốc tế và đầu tư nước ngoài trong những tháng đầu năm 2017, các vấn đề tồn tại của nền kinh tế hiện nay như chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp vẫn đang là thách thức tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước ta.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương tập trung thực hiện ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý I năm nay như sau:

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2017 ước tính tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,03%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,17%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm. Tăng trưởng quý I năm nay cao hơn mức tăng của quý I các năm 2012-2014[1], nhưng thấp hơn so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015 và 5,48% của cùng kỳ năm 2016.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp đã cho thấy dấu hiệu khả quan với mức tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2016 ngành này giảm sâu 2,69%), đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp tăng 4,94%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chỉ tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, thấp nhất kể từ năm 2011 trở về đây[2], trong đó ngành khai khoáng sụt giảm mạnh, bằng 90% cùng kỳ năm trước, làm giảm 0,76 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung; ngành chế biến, chế tạo đạt mức tăng 8,30% (giảm đáng kể so với mức tăng 9,70% của cùng kỳ năm 2015 và 8,94% của cùng kỳ năm 2016), đóng góp 1,46 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 6,10%, thấp hơn tốc độ tăng 8,60% của cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,30 điểm phần trăm.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,77 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,03%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,76%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục được cải thiện, đạt mức tăng 3,72%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,06%; khu vực dịch vụ chiếm 43,99%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,76% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 11,42%; 34,37%; 43,54%; 10,67%).

Xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,73% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 7,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 6,65 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 8,50%, đóng góp 2,27 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 4,42 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

quý I các năm 2015, 2016 và 2017

 

 

 

       Tốc độ tăng so với quý I

năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng quý I năm 2017
(Điểm phần trăm)

 

Quý I năm 2015

Quý I
năm 2016

Quý I      năm 2017

Tổng số

6,12

5,48

5,10

5,10

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2,25

-1,31

2,03

0,24

Công nghiệp và xây dựng

8,74

7,16

4,17

1,46

Dịch vụ

5,68

5,98

6,52

2,65

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

4,51

6,05

6,00

0,75

 

Tổng sản phẩm trong nước quý I năm 2017

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm nay theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 181,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 138,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,41%; lâm nghiệp đạt 6,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,04%; thủy sản đạt 36,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,59%.

Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3.040,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.114,3 nghìn ha, bằng 101,3%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.926,6 nghìn ha, bằng 100,3%, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.538 nghìn ha, bằng 98,9%. Tiến độ gieo cấy lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay đạt thấp hơn cùng kỳ[3] ngoài việc bị ảnh hưởng từ hiện tượng xâm nhập mặn năm trước (thổ nhưỡng chưa cải tạo kịp thời, cơ quan chức năng khuyến cáo nông dân hạn chế xuống giống ở những diện tích đất chưa được rửa mặn hoàn toàn), còn do vụ lúa hè thu và thu đông vừa qua kết thúc muộn, không thể xuống giống đúng thời vụ. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân năm nay giảm so với vụ đông xuân trước: Trà Vinh giảm 8,8 nghìn ha; An Giang giảm 3 nghìn ha; Tiền Giang giảm 2,5 nghìn ha; Kiên Giang giảm 2,3 nghìn ha. Đến nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 934,9 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 61% diện tích xuống giống và bằng 86,6% cùng kỳ năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 63,6 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha. Sản lượng lúa đông xuân toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 9,9 triệu tấn, giảm 125 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước.

Cũng đến thời điểm trên, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn tất thu hoạch lúa vụ mùa 2016-2017. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt trên 151 nghìn ha, bằng 73,1% cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của hạn hán, ngập mặn và khó khăn về nguồn nước tưới dưỡng, trong đó một số địa phương có diện tích gieo cấy giảm nhiều: Trà Vinh giảm 23,6 nghìn ha; Bến Tre giảm 16,7 nghìn ha; Kiên Giang giảm 12,7 nghìn ha. Năng suất lúa mùa toàn vùng ước tính đạt 40,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 606,6 nghìn tấn, giảm 207,1 nghìn tấn.

Gieo trồng hoa màu đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước, chủ yếu là cây vụ đông do hiệu quả kinh tế thấp và thời tiết không thuận lợi. Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 341,4 nghìn ha ngô, bằng 98,3% cùng kỳ năm trước; 65,9 nghìn ha khoai lang, bằng 95,5%; 106,2 nghìn ha lạc, bằng 84,5%; 24,9 nghìn ha đỗ tương, bằng 73%; 531,2 nghìn ha rau đậu, bằng 102,5%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định do không bị ảnh hưởng bởi thời tiết rét đậm, rét hại như những năm trước, đồng thời dịch bệnh lớn không xảy ra. Đàn trâu cả nước tháng Ba ước tính giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 1,5%-2,2%; đàn lợn tăng 1,5%-2,0%; đàn gia cầm tăng 3,2%-3,8%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 3,6%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4,3%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 5,3%.

Tính đến ngày 26/3/2017, cả nước không có dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng. Dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở Hà Tĩnh, Quảng Trị, Cần Thơ, Hậu Giang.

Lâm nghiệp

Thời tiết đầu năm tương đối thuận lợi cho hoạt động trồng rừng và chăm sóc rừng. Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 3 tháng đầu năm ước tính đạt 28,5 nghìn ha, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Yên Bái đạt 6,5 nghìn ha, tăng 15,2%; Quảng Ngãi đạt 3,8 nghìn ha, tăng 14,9%; Thừa Thiên - Huế đạt 1,9 nghìn ha, tăng 28,7%; Phú Thọ đạt 1,8 nghìn ha, tăng 51,9%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước tính đạt 16,1 triệu cây, tăng 1,9% so cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.684 nghìn m3, tăng 5,4%, trong đó Thanh Hóa đạt 134,6 nghìn m3, tăng 16%; Phú Thọ đạt 128,9 nghìn m3, tăng 18%; riêng các tỉnh Tây Nguyên sản lượng gỗ khai thác giảm 27% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện chủ trương về đóng cửa rừng tự nhiên. Sản lượng củi khai thác ước tính đạt 7,8 triệu ste, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong quý I, diện tích rừng bị thiệt hại là 200,4 ha, giảm 76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 97,7 ha, giảm 86,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 102,7 ha, tăng 5,8%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1.320,8 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 978,6 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm đạt 131,5 nghìn tấn, tăng 5,3%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng ước đạt 566,8 nghìn tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 401,6 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 97,8 nghìn tấn, tăng 6,9%.

Nuôi cá tra đạt thấp do năm trước nuôi cá tra gặp khó khăn nên nhiều hộ đến nay vẫn “treo ao”. Bên cạnh đó, thương lái Trung Quốc tập trung thu mua “cá tra non” những tháng cuối năm 2016 nên mặc dù giá cá tra trong quý I năm nay tăng khá nhưng vẫn thiếu hụt nguồn cung. Sản lượng cá tra ước tính đạt 209,3 nghìn tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 79,8 nghìn tấn, tăng 0,4%; An Giang đạt 69,6 nghìn tấn, giảm 1,5%; Bến Tre đạt 39,4 nghìn tấn, giảm 2,3%.

Nuôi tôm có nhiều thuận lợi, giá tôm nguyên liệu ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh[4] do nhu cầu thu mua của các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu tăng cao. Sản lượng tôm sú ước tính đạt 39,3 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 37,5 nghìn tấn, tăng 14,9% do diện tích thả nuôi những tháng cuối năm 2016 đạt khá.

Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 754,1 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 577 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 33,7 nghìn tấn, tăng 1%. Thời tiết những tháng đầu năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác biển, sản lượng thủy sản khai thác biển quý I ước tính đạt 720 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 553,4 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 31,2 nghìn tấn, tăng 2,5%.

 

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba ước tính tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,9%; sản xuất phân phối điện tăng 11,3%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%.

Tính chung quý I năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây[5]. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3%, đóng góp 5,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 11,4%, làm giảm 2,5 điểm phần trăm mức tăng chung[6].

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất của sản phẩm trung gian dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm dùng cho sử dụng cuối cùng tăng 6,6%; sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 9,2% (công cụ sản xuất tăng 5,4%; tư liệu xây dựng tăng 9,9%); sản phẩm tiêu dùng của dân cư tăng 2,7%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 43,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 14,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và sản xuất trang phục cùng tăng 11,6%; dệt tăng 11,4%. Một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thiết bị điện tăng 5,6%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,4% (trong đó sản xuất đường giảm 6,5%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; khai khoáng khác tăng 1,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 1,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học giảm 1% (Samsung Bắc Ninh giảm sản lượng điện thoại thông minh và máy tính bảng để chuẩn bị sản xuất sản phẩm mới); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,6%; khai thác than giảm 5,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,6%.

Trong quý I năm nay, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm 2016: Ti vi tăng 43,3%; thép cán tăng 32,2%; sắt thép thô tăng 23,2%; phân ure tăng 18,5%; sữa tươi tăng 12,7%; sơn hóa học tăng 12,1%. Một số sản phẩm tăng khá: Thủy hải sản chế biến tăng 10,2%; ô tô tăng 10%; điện sản xuất và quần áo mặc thường cùng tăng 9,5%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ: Thức ăn cho thủy sản và xi măng cùng tăng 5,4%; thuốc lá điếu tăng 1,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 1,1%; xe máy giảm 0,6%; giày, dép da giảm 1,6%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 3,9%; than đá giảm 5,6%; đường kính giảm 7,4%; điện thoại di động giảm 8,2%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 8,9%; dầu thô khai thác giảm 14,9%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 17,2%; Thái Nguyên tăng 12,5%; Đà Nẵng tăng 10,6%; Hải Dương tăng 9,3%; Quảng Nam tăng 7,9%; Bình Dương tăng 7,2%; Đồng Nai tăng 6,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6%; Hà Nội tăng 5,9%; Cần Thơ tăng 4,6%; Quảng Ninh giảm 3,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 5,8%; Bắc Ninh giảm 7,2%; Quảng Ngãi giảm 11,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 2/2017 tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 2 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 17,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 15,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 14,2%; dệt tăng 13,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 11,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 5,1%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 2,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 1,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 0,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 7,5%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/3/2017 tăng 12,5% so với cùng thời điểm năm 2016, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 6,9%; sản xuất kim loại tăng 5,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,3%; sản xuất trang phục giảm 0,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,1%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 26,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 42,6%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất xe có động cơ tăng 89,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 79,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 51,5%; sản xuất đồ uống tăng 50,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 35,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 28,1%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân hai tháng đầu năm 2017 là 74,3%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 113,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) 111,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 102,8%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2017 tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,4%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 4,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,1%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Hải Phòng tăng 15,9%; Đà Nẵng và Vĩnh Phúc cùng tăng 6,6%; Bình Dương tăng 4,9%; Hải Dương tăng 3,9%; Đồng Nai tăng 1,2%; Cần Thơ và Quảng Nam cùng tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,2%; Quảng Ngãi giảm 5,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 9,6%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

 

Hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[7]

Trong tháng Ba, cả nước có 12.027 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 118,7 nghìn tỷ đồng, tăng 120% về số doanh nghiệp và tăng 90,6% về số vốn đăng ký so với tháng trước[8] (Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,9 tỷ đồng, giảm 13,2%); tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 125 nghìn người, tăng 99,9%.

Trong tháng, cả nước có 1.294 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 46,4% so với tháng trước; có 4.590 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.406 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 3.184 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 39,5%; có 744 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 20,9%.

Tính chung quý I năm nay, cả nước có 26.478 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 271,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016[9]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 30,9%. Nếu tính cả 325,4 nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I năm 2017 là 596,6 nghìn tỷ đồng. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 291,5 nghìn người, bằng 90,5% cùng kỳ năm trước. Trong 3 tháng đầu năm còn có 9.271 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong quý I năm nay lên hơn 35,7 nghìn doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký trong quý I tăng so với cùng kỳ năm trước: Kinh doanh bất động sản tăng 55% về số doanh nghiệp và tăng 31,1% về vốn đăng ký; giáo dục và đào tạo tăng 28% và tăng 79,7%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 26,3% và tăng 50,1%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 15,8% và tăng 21,9%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 14,8% và tăng 136,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,1% và tăng 75,6%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,8% và tăng 123,6%; thông tin và truyền thông tăng 6,2% và tăng 67,2%... Một số ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới tăng nhưng số vốn đăng ký giảm: Sản xuất và phân phối điện, nước, gas tăng 32,5% (vốn đăng ký giảm 40,8%); nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 16,4% (vốn đăng ký giảm 17,7%); vận tải, kho bãi tăng 2,1% (vốn đăng ký giảm 18,6%).

Trong quý I năm nay, doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ở các vùng đều tăng, trong đó: Trung du và miền núi phía Bắc đạt 1.150 doanh nghiệp, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước (Vốn đăng ký đạt 15.744 tỷ đồng, tăng 14,8%); Đồng bằng sông Hồng 7.886 doanh nghiệp, tăng 16,4% (Vốn đăng ký 61.985 tỷ đồng, tăng 18%); Đông Nam Bộ có 11.179 doanh nghiệp, tăng 10,4% (Vốn đăng ký 127.948 tỷ đồng, tăng 50,2%); Tây Nguyên có 698 doanh nghiệp, tăng 9,6% (Vốn đăng ký 8.408 tỷ đồng, tăng 124%); Đồng bằng Sông Cửu Long 2.016 doanh nghiệp, tăng 7,9% (vốn đăng ký 16.747 tỷ đồng, tăng 30,2%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 3.549 doanh nghiệp, tăng 2,6% (Vốn đăng ký là 40.405 tỷ đồng, tăng 125,2%).

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 3 tháng đầu năm 2017 là 3.268 doanh nghiệp, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 13,8%), trong đó có 3.008 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 1.269 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 38,8%); có 993 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 30,4%); có 594 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 18,2%) và có 412 công ty cổ phần (chiếm 12,6%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm là 20.636 doanh nghiệp, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 9.942 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 23,9% và 10.694 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 11%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 3.994 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,2%); có 3.264 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,8%); có 1.672 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); có 1.010 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,2%) và có 2 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 4.647 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,5%); có 3.070 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 28,7%); có 2.160 công ty cổ phần (chiếm 20,2%) và có 817 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 7,6%). Theo lĩnh vực hoạt động, hầu hết các ngành có số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành tiếp tục giảm mạnh: Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 46,7%; nghệ thuật vui chơi và giải trí giảm 41,5%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 33,6%; vận tải, kho bãi giảm 30,4%; khai khoáng giảm 27,3%.

 

 

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2017 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 24,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 41,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 57,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 9,8% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 32,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I năm nay, có 56,2% doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 44,2% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 34,5% doanh nghiệp cho rằng do khó khăn về tài chính; 31,2% doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 27% doanh nghiệp cho rằng lãi suất cao và 22,9% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao là yếu tố quan trọng.

Về khối lượng sản xuất, có 35,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I năm nay tăng so với quý trước; 25,6% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 39,2% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Về xu hướng quý II so với quý I, có 58,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 8,3% số doanh nghiệp dự báo giảm và 33,5% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 31% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý I năm nay cao hơn quý trước; 22,9% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 46,1% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý II khả quan hơn so với quý I với 51,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 8,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 40,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý I năm nay so với quý trước, có 27% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 19,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 53,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 38,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 9,3% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 51,9% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 28,3% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý I năm nay tăng so với quý trước; 7,5% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 64,2% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý II/2017, có 20,6% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý I; 9,6% cho rằng chi phí giảm và 69,8% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm, có 18,2% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm quý I năm nay tăng so với quý trước; 8% số doanh nghiệp cho biết giá bán thấp hơn và 73,8% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý II so với quý I, có 18,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 6,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 19,4% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý I năm nay tăng so với quý trước; 28,9% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 51,7% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 14,4% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 32,3% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 53,4% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu, quý I/2017 so với quý trước, có 17,8% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 27,5% số doanh nghiệp cho là giảm và 54,7% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý II so với quý I, có 13,9% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 31,3% dự báo lượng tồn kho giảm và 54,8% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu.

Về sử dụng lao động, quý I năm nay so với quý trước, có 16,1% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 13,5% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 70,4% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Dự kiến quý II so với quý I, có 22,2% số doanh nghiệp dự báo quy mô lao động tăng; 6,4% số doanh nghiệp dự báo giảm và 71,4% số doanh nghiệp ổn định quy mô lao động.

Hoạt động dịch vụ

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba ước tính đạt 312,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 235,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 38,2 nghìn tỷ đồng, tăng 18%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5%; doanh thu dịch vụ khác đạt 37 nghìn tỷ đồng, tăng 10%.

Tính chung quý I năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 921,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,2% (thấp hơn mức tăng 7,5% của quý I năm 2016). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm nay ước đạt 689,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,9% tổng mức và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,4%; may mặc tăng 8,8%; phương tiện đi lại tăng 8,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,3%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 3,4%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I ước tính đạt 114 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,4% tổng mức và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá: Đồng Nai tăng 12,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 11,8%; Lâm Đồng tăng 10,9%; Bình Dương tăng 10,3%; Hải Phòng tăng 9,8%; Hà Nội tăng 9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,4%.

Doanh thu du lịch lữ hành quý I ước tính đạt 7,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá: Quảng Ninh tăng 14,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,5%; Bình Thuận tăng 10,9%; Hà Nội tăng 5,3%. Một số địa phương doanh thu giảm nhiều: Đắk Nông giảm 19,1%; Lào Cai giảm 18,9%; Quảng Bình giảm 15,6%; Lai Châu giảm 13,7%; Phú Thọ giảm 12,6%.

Doanh thu dịch vụ khác quý I năm nay ước tính đạt 110 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng mức và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó một số địa phương doanh thu tăng khá: Bình Định tăng 13,5%; Nghệ An tăng 11%; Hưng Yên tăng 9,6%; Quảng trị tăng 9,4%; Cà Mau tăng 8,2%; Hà Giang tăng 7,6%; Cần Thơ tăng 7,5%; Hà Nội tăng 5,2%.

 

 

Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng Ba ước tính đạt 325,3 triệu lượt khách, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 14,7 tỷ lượt khách.km, tăng 10,1%. Tính chung 3 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 969,9 triệu lượt khách, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 44,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,4%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 913,2 triệu lượt khách, tăng 9% và 29,9 tỷ lượt khách.km, tăng 7%; đường biển đạt 1,6 triệu lượt khách, tăng 6,8% và 81,8 triệu lượt khách.km, tăng 4,1%; đường hàng không đạt khá với 10,5 triệu lượt khách, tăng 14,1% và 12,4 tỷ lượt khách.km, tăng 17,9%. Vận tải đường sắt đạt 2,4 triệu lượt khách, giảm 10,8% so với cùng kỳ năm trước 1 tỷ lượt khách.km, giảm 8,5%.

Vận tải hàng hóa tháng Ba ước tính đạt 116,2 triệu tấn, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước và 21,8 tỷ tấn.km, tăng 9,6%. Tính chung 3 tháng, vận tải hàng hóa đạt 350,1 triệu tấn, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước và 64,4 tỷ tấn.km, tăng 6,7%, trong đó vận tải trong nước đạt 341,9 triệu tấn, tăng 15,1% và 31,3 tỷ tấn.km, tăng 12,2%; vận tải ngoài nước đạt 8,2 triệu tấn, tăng 1,5% và 33,1 tỷ tấn.km, tăng 1,9%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 272,6 triệu tấn, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước và 16,9 tỷ tấn.km, tăng 12,1%; đường sông đạt 59,4 triệu tấn, tăng 12,6% và 12,7 tỷ tấn.km, tăng 15,8%; đường biển đạt 16,7 triệu tấn, tăng 11,2% và 33,8 tỷ tấn.km, tăng 1,3%; đường sắt đạt 1,3 triệu tấn, giảm 1,2% và 0,8 tỷ tấn.km, tăng 1%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý I năm 2017 ước tính đạt 96,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối tháng 3/2017, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 129,5 triệu thuê bao, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuê bao di động là 120,6 triệu thuê bao, giảm 0,6%[10]; thuê bao Internet băng rộng cố định ước tính đạt 9,5 triệu thuê bao, tăng 18,8%.

 

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Ba ước tính đạt 1.005,8 nghìn lượt người, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước (là tháng thứ 3 liên tiếp từ đầu năm đón trên 1 triệu lượt khách), trong đó khách đến từ châu Á tăng 24,5%; từ châu Âu tăng 18,1%; từ châu Mỹ tăng 6%; từ châu Phi tăng 21,1%.

Tính chung quý I năm 2017, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.212,5 nghìn lượt người, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 2.631,6 nghìn lượt người, tăng 32,5%; đến bằng đường bộ đạt 468,8 nghìn lượt người, tăng 7,6%; đến bằng đường biển đạt 112,1 nghìn lượt người, tăng 66,2%.

Trong quý I năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 2.291,6 nghìn lượt người, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 949,2 nghìn lượt người, tăng 63,5%; Hàn Quốc 527,5 nghìn lượt người, tăng 29,2%; Nhật Bản 201,6 nghìn lượt người, tăng 4,8%; Đài Loan 150,1 nghìn lượt người, tăng 22,4%; Ma-lai-xi-a 113,1 nghìn lượt người, tăng 19,9%; Thái Lan 78,6 nghìn lượt người, tăng 17,7%; Xin-ga-po 62,9 nghìn lượt người, tăng 6%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 559,5 nghìn lượt người, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khách đến từ Liên bang Nga 175,5 nghìn lượt người, tăng 61,3%; Vương quốc Anh 75 nghìn lượt người, tăng 9,2%; Pháp 74,9 nghìn lượt người, tăng 10,8%; Đức 61,9 nghìn lượt người, tăng 13,2%; Thụy Điển 21 nghìn lượt người, tăng 26,6%; Hà Lan 18 nghìn lượt người, tăng 20,4%; I-ta-li-a 17 nghìn lượt người, tăng 13,5%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 247,7 nghìn lượt người, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 179,7 nghìn lượt người, tăng 9,1%. Khách đến từ châu Úc đạt 104,9 nghìn lượt người, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 95,2 nghìn lượt người, tăng 3,4%. Khách đến từ châu Phi đạt 8,8 nghìn lượt người, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,88% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 3,08%). Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,43% (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,26%). Tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm đã tăng mạnh nhất trong vòng 6 năm trở lại đây đạt 2,81%[11], cho thấy khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp tương đối tốt và thu nhập lãi của các ngân hàng có sự cải thiện tích cực.

Lãi suất huy động hiện nay khá ổn định. Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4%-7,2%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-7%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt có tình hình tài chính minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4%-5%/năm.

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2017 ước tính tăng 20% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 29%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 15%.

Xây dựng, đầu tư

Xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng quí I năm 2017 theo giá hiện hành ước tính đạt 225,8 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 17,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,6%; khu vực ngoài Nhà nước 196,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 11,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,3%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 91,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,5%; công trình nhà không để ở đạt 37,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,5%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 72 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,9%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 25 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,1%.

Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất xây dựng quí I năm nay ước tính tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực Nhà nước tăng 6,7%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 7,1%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở tăng 10,7%; công trình nhà không để ở tăng 0,4%; công trình kỹ thuật dân dụng tăng 3%; hoạt động xây dựng chuyên dụng tăng 8,7%.

Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm nay theo giá hiện hành ước tính đạt 297,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 99,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng vốn và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 117,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,4% và tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 80,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,1% và tăng 6,2%.

 

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

quý I các năm 2015 - 2017 so với cùng kỳ năm trước

                                                                                                              Đơn vị tính: %

 

Quý I            năm 2015

Quý I
năm 2016

Quý I      năm 2017

Tổng số

109,7

110,9

108,6

Khu vực Nhà nước

107,7

105,9

104,9

Khu vực ngoài Nhà nước

111,4

114,5

113,8

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

110,2

112,8

106,2

 

 

 

 

 

 

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 45,4 nghìn tỷ đồng, bằng 15,6% kế hoạch năm và tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 9,7 nghìn tỷ đồng, bằng 14,3% kế hoạch năm và tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 4.925 tỷ đồng, bằng 15,7% và tăng 36,3%; Bộ Y tế 625 tỷ đồng, bằng 12,2% và tăng 20,2%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 595 tỷ đồng, bằng 14,3% và giảm 32,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 85 tỷ đồng, bằng 15,3% và giảm 68,7%; Bộ Xây dựng 78 tỷ đồng, bằng 16,1% và giảm 44,1%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 75 tỷ đồng, bằng 12,9% và giảm 13,9%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 55 tỷ đồng, bằng 12,5% và giảm 56,1%; Bộ Công Thương 37 tỷ đồng, bằng 14,9% và giảm 47,5%; Bộ Khoa học và Công nghệ 13 tỷ đồng, bằng 14,6% và giảm 59,4%; Bộ Thông tin và Truyền thông 12 tỷ đồng, bằng 13,2% và giảm 41,7%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 35,7 nghìn  tỷ đồng, bằng 16% kế hoạch năm và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 24,6 nghìn tỷ đồng, bằng 14,9% kế hoạch năm và tăng 2,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 9.178 tỷ đồng, bằng 18,3% và tăng 18,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1.931 tỷ đồng, bằng 22,9% và tăng 12,1%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 5.595 tỷ đồng, bằng 17,3% kế hoạch năm và tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 2.578 tỷ đồng, bằng 7,6% và tăng 11,1%; Nghệ An 1.373 tỷ đồng, bằng 21,2% và tăng 11,7%; Vĩnh Phúc 1.226 tỷ đồng, bằng 20,4% và tăng 42,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1.053 tỷ đồng, bằng 20% và giảm 16,1%; Thanh Hóa 982 tỷ đồng, bằng 20,5% và giảm 1%; Kiên Giang 927 tỷ đồng, bằng 24% và giảm 1,9%; Bình Dương 793 tỷ đồng, bằng 11,1% và tăng 10,1%; Quảng Nam 791 tỷ đồng, bằng 18,7% và tăng 19,3%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2017 thu hút 493 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.917,2 triệu USD, tăng 4,2% về số dự án và tăng 6,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 223 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 3.940 triệu USD[12].

Trong 3 tháng đầu năm 2017 có 1.077 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 852,9 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 3 tháng đầu năm đạt 7.710,1 triệu USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng đầu năm ước tính đạt 3.620 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 3 tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.179,7 triệu USD, chiếm 74,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 311 triệu USD, chiếm 10,7%; các ngành còn lại đạt 426,5 triệu USD, chiếm 14,6%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 3 tháng đầu năm đạt 6.545,6 triệu USD, chiếm 84,9% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 343,7 triệu USD, chiếm 4,5%; các ngành còn lại đạt 820,8 triệu USD, chiếm 10,6%.

Trong 3 tháng đầu năm, cả nước có 42 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Bình Dương có số vốn đăng ký lớn nhất với 800,4 triệu USD, chiếm 27,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bình Phước 280,8 triệu USD, chiếm 9,6%; Tây Ninh 275 triệu USD, chiếm 9,4%; Bắc Giang 178,2 triệu USD, chiếm 6,1%; thành phố Hồ Chí Minh 133,2 triệu USD, chiếm 4,6%; Đồng Nai 125,1 triệu USD, chiếm 4,3%; Nghệ An 122,2 triệu USD, chiếm 4,2%; Bắc Ninh 116 triệu USD, chiếm 4%; Bà Rịa - Vũng Tàu 112,5 triệu USD, chiếm 3,9%; Hà Nội 101,5 triệu USD, chiếm 3,5%; Hải Dương 97,5 triệu USD, chiếm 3,3%; Quảng Nam 76,6 triệu USD, chiếm 2,6%[13].

Trong số 38 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 3 tháng năm nay, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 931,3 triệu USD, chiếm 31,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 683,9 triệu USD, chiếm 23,4%; Xin-ga-po 446,3 triệu USD, chiếm 15,3%; Nhật Bản 218,3 triệu USD, chiếm 7,5%; Quần đảo Vigin thuộc Anh 125 triệu USD, chiếm 4,3%[14].

 

 

 Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 216,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 175,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,7%; thu từ dầu thô 9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 32,2 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9%. Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 18,9 nghìn tỷ đồng, bằng 29,7% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 17,2 nghìn tỷ đồng, bằng 21,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 38,3 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 36,8 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3%; thu thuế bảo vệ môi trường 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 14%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 33 nghìn tỷ đồng, bằng 11,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 229,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 32,6 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1%; chi thường xuyên 173,2 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%; chi trả nợ lãi 23 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2%. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 38,4 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 2/2017 đạt 13.106 triệu USD, cao hơn 106 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 118 triệu USD; sắt thép cao hơn 71 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 54 triệu USD; cà phê cao hơn 39 triệu USD; hạt điều cao hơn 32 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 140 triệu USD; hàng dệt may thấp hơn 113 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba ước tính đạt 16,30 tỷ USD, tăng 24,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,59 tỷ USD, tăng 27,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 11,71 tỷ USD, tăng 23,1%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng mạnh so với tháng trước: Hạt điều tăng 90,9% (lượng tăng 85,5%); hạt tiêu tăng 79,8% (lượng tăng 97,7%); dệt may tăng 51,4%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 47,5%; thủy sản tăng 33,8%; rau quả tăng 33,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba tăng 8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 7,4%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng khá: Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 40,4%; giày dép tăng 14,5%; hàng dệt may tăng 13,4%.

Tính chung quý I năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 12,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 31,4 tỷ USD, tăng 13%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực và hàng nông sản quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Hàng dệt may đạt 5,6 tỷ USD, tăng 10,2%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 5,3 tỷ USD, tăng 42,3%; giày dép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 10,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 2,8 tỷ USD, tăng 34,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,7 tỷ USD, tăng 14,4%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,7 tỷ USD, tăng 21%; cà phê đạt 1,1 tỷ USD, tăng 30,7%; rau quả đạt 671 triệu USD, tăng 24,3%; dầu thô đạt 650 triệu USD, tăng 29,7% (lượng giảm 15,8%); hạt điều đạt 520 triệu USD, tăng 18% (lượng giảm 2,9%). Tuy nhiên, có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm: Điện thoại và linh kiện đạt 7,4 tỷ USD, giảm 10,7%; gạo đạt 524 triệu USD, giảm 23,3% (lượng giảm 23,9%); hạt tiêu đạt 315 triệu USD, giảm 13,9% (lượng tăng 12,3%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 309 triệu USD, giảm 1,3 % (lượng tăng 5%). Tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của nước ta hiện nay vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chiếm 97,3% kim ngạch hàng điện tử, máy tính và linh kiện; chiếm 91,9% kim ngạch máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác; chiếm 60,1% kim ngạch hàng dệt may.

Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu quý I năm nay thay đổi không nhiều so với cùng kỳ năm trước: Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 20,5 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 46,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (giảm 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2016), trong đó điện thoại và linh kiện đạt 7,4 tỷ USD, giảm 10,7% và chiếm 16,9%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt gần 17 tỷ USD, tăng 14,2% và chiếm 38,8% (tăng 0,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt gần 4,8 tỷ USD, tăng 11,8% và chiếm 10,9% (giảm 0,1 điểm phần trăm). Hàng thủy sản đạt 1,5 tỷ USD, tăng 6% và chiếm 3,4% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 3 tháng đầu năm, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 8,7 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó hàng dệt may tăng 10,7%; giày dép tăng 12,5%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 13%. Tiếp đến là EU với 7,9 tỷ USD, tăng 4,2%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 3,2%; dệt may tăng 10,7%; giày dép tăng 14%. Trung Quốc đạt 6 tỷ USD, tăng 43,3%, trong đó xơ sợi dệt tăng 26%; rau quả tăng 28,9%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 103,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 115,5%. Thị trường ASEAN đạt 4,9 tỷ USD, tăng 21,8%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 5,6%; sắt thép tăng 69,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 100,6%. Nhật Bản đạt 3,7 tỷ USD, tăng 15,4%. Hàn Quốc đạt 3 tỷ USD, tăng 24,1%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 2/2017 đạt 15.150 triệu USD, cao hơn 950 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 287 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 110 triệu USD; chất dẻo cao hơn 80 triệu USD; sắt thép cao hơn 78 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu cùng mặt hàng điện thoại và linh kiện đều cao hơn 55 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép cao hơn 51 triệu USD; ô tô cao hơn 50 triệu USD.

 

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba năm nay ước tính đạt 17,40 tỷ USD, tăng 14,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,90 tỷ USD, tăng 14,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,50 tỷ USD, tăng 15,2%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao: Vải tăng 30%; sản phẩm hóa chất tăng 26,2%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép tăng 19,7%; sản phẩm chất dẻo tăng 17,4%; chất dẻo tăng 15,8%; điện thoại và linh kiện tăng 15,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 11,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba tăng 21%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 21,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,7%. Một số mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sắt thép tăng 39,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 24,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,6%.

 

Tính chung kim ngạch hàng hoá nhập khẩu quý I năm nay đạt 45,6 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập 18,4 tỷ USD, tăng 24,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập 27,2 tỷ USD, tăng 21,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I năm 2017 tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.

 

Trong quý I năm nay, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 7,6 tỷ USD, tăng 28,3%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,3 tỷ USD, tăng 15%; điện thoại và linh kiện đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,7%; sắt thép đạt 2,4 tỷ USD, tăng 45,4% (lượng giảm 5,3%); vải đạt 2,3 tỷ USD, tăng 5,5%; chất dẻo đạt 1,7 tỷ USD, tăng 33,2%; xăng dầu đạt 1,4 tỷ USD, tăng 56,6% (lượng giảm 4,3%); kim loại thường khác đạt 1,3 tỷ USD, tăng 23,9%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,2 tỷ USD, tăng 17,2%; sản phẩm hóa chất đạt 998 triệu USD, tăng 24,3%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 932 triệu USD, tăng 38,2%; hóa chất đạt 905 triệu USD, tăng 35,1%; bông đạt 586 triệu USD, tăng 43,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 530 triệu USD, tăng 26,1%.

 

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu quý I, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 42 tỷ USD, tăng 22,7% và chiếm 92% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2016), trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 18,8 tỷ USD, tăng 22,5% và chiếm 41,1% (tăng 0,1 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 23,2 tỷ USD, tăng 22,7% và chiếm 50,9% (tăng 0,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 3,7 tỷ USD, tăng 19,7% và chiếm 8% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

 

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu quý I năm nay, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 11,9 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2016[15], trong đó kim ngạch nhập khẩu một số mặt phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp tăng: Điện thoại và linh kiện tăng 5,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 23,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 25,4%. Hàn Quốc đạt 9,3 tỷ USD, tăng 36,1%, trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 16,1%; điện thoại và linh kiện tăng 20,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 84,2%. ASEAN đạt 6,3 tỷ USD, tăng 17,7%, trong đó chất dẻo nguyên liệu tăng 15,1%; xăng dầu tăng 26,1%; ô tô nguyên chiếc tăng 76,1%; điện tử, máy tính và linh kiện và hàng điện gia dụng cùng giảm 14,3%. Nhật Bản đạt 3,9 tỷ USD, tăng 23,3% trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 15,3%; sắt thép tăng 20,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 23,2%. EU đạt 2,9 tỷ USD, tăng 28,7%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 6,7%; dược phẩm tăng 16,8%; sản phẩm hóa chất tăng 19,4%. Hoa Kỳ đạt 2,3 tỷ USD, tăng 32,1%.

 

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Hai nhập siêu 2 tỷ USD[16]; tháng Ba ước tính nhập siêu 1,1 tỷ USD. Tính chung quý I/2017 nhập siêu 1,90 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,06 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,16 tỷ USD.

 

 

Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I năm 2017 ước tính đạt 3,3 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 68% tổng kim ngạch và tăng 9,3%; dịch vụ vận tải đạt 625 triệu USD, chiếm 19,1% và tăng 7,4%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước tính đạt 3,8 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 47,6% tổng kim ngạch và giảm 2,7%; dịch vụ du lịch đạt 1,1 tỷ USD, chiếm 27,8% và tăng 13,3%. Nhập siêu dịch vụ quý I là 500 triệu USD, bằng 15,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2017 tăng 0,21% so với tháng trước, trong đó 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 7,51% (dịch vụ y tế tăng 9,86%) do trong tháng có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[17] thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính (tác động làm CPI tăng khoảng 0,38%). Nhóm giáo dục tăng 0,75% (dịch vụ giáo dục tăng 0,87%) do trong tháng tỉnh Thanh Hóa thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính Phủ. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,5% (giá vật liệu xây dựng tăng 0,53%; giá nước sinh hoạt tăng 0,43%; giá điện sinh hoạt tăng 0,26%). Nhóm giao thông tăng 0,39% chủ yếu do ảnh hưởng của lần điều chỉnh tăng giá xăng, dầu tại thời điểm 18/2/2017[18] (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,04%). Nhóm thiết bị và đồ gia đình gia đình tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; bưu chính viễn thông tăng 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,87% (lương thực tăng 0,16%; thực phẩm giảm 1,22%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,12%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 4,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, cao hơn so với mức của cùng kỳ 3 năm gần đây[19]. CPI quý I năm nay tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Các địa phương thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ y tế và thực hiện lộ trình tăng học phí[20]; (ii) Hai tháng đầu năm nay trùng với Tết Nguyên đán nên nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng lên[21]; (iii) Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới trong 3 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh, làm cho giá xăng dầu bình quân quý I tăng 34,92% so với cùng kỳ, đóng góp 1,45% vào mức tăng CPI chung.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2017 tăng 0,90% so với tháng 12/2016 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2017 không đổi so với tháng trước và tăng 1,60% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 3 tháng đầu năm 2017 tăng 1,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 3/2017 giảm 0,28% so với tháng trước; tăng 1,98% so với tháng 12/2016 và tăng 5,00% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2017 tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 0,26% so với tháng 12/2016 và tăng 1,92% so với cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2017 tăng 1,41% so với quý trước và tăng 5,13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,31% và tăng 4,63%; lâm nghiệp tăng 2,83% và tăng 4,28%; thủy sản tăng 4,67% và tăng 6,53%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I tăng 0,34% so với quý trước và tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 6,65% và tăng 18,88%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,33% và tăng 0,16%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,51% và tăng 2,84%; nước sạch, xử lý nước thải tăng 0,68% và giảm 0,36%.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm 2017 tăng 1,18% so với quý trước và tăng 0,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,12% và tăng 1,98%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,13% và tăng 0,39%; sử dụng cho xây dựng tăng 1,90% và tăng 3,74%.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I năm nay tăng 1,63% so với quý trước và tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá dịch vụ vận tải đường sắt, đường bộ tăng 0,97% và giảm 1,74%; giá dịch vụ vận tải đường thủy giảm 0,06% và tăng 0,33%; dịch vụ vận tải hàng không tăng 7,65% và tăng 2,69%.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý I năm 2017 tăng 1,36% so với quý trước và tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 1,28% và tăng 2,75%; thông tin và truyền thông tăng 0,24% và tăng 0,37%; giáo dục và đào tạo tăng 1,61% và tăng 6,35%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 6,79% và tăng 36,26%.

Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm 2017 tăng 1,58% so với quý trước và tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá xuất khẩu hàng rau quả giảm 1,76% và tăng 0,35%; hàng thủy sản tăng 2,12% và tăng 7,23%; cà phê tăng 5,73% và tăng 22,8%; dầu thô tăng 4,40% và tăng 53,14%; cao su tăng 16,39% và tăng 46,05%.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I năm nay tăng 1,45% so với quý trước và tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu khí đốt hóa lỏng tăng 24,6% và tăng 29,12%; xăng dầu tăng 5,22% và tăng 38,9%; cao su tăng 9% và tăng 28,97%; sắt, thép tăng 6,83% và tăng 6,65%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[22] quý I năm nay tăng 0,12% so với quý trước và tăng 2,40% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu tăng 2,87% và tăng 2,95%; cao su tăng 6,78% và tăng 13,24%; máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện giảm 0,15% và giảm 3,23%; gỗ và sản phầm gỗ tăng 0,67% và tăng 2,78%.

 

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/4/2017 ước tính là 54,5 triệu người, tăng 104,9 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2016, bao gồm: Lao động nam 28,0 triệu người, chiếm 51,4%; lao động nữ 26,5 triệu người, chiếm 48,6%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 18,1 triệu người, chiếm 33,2%; khu vực nông thôn là 36,4 triệu người, chiếm 66,8%. Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 47,9 triệu người, tăng 212,5 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam 25,8 triệu người, chiếm 53,9%; lao động nữ 22,1 triệu người, chiếm 46,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,3 triệu người, chiếm 34,0%; khu vực nông thôn là 31,6 triệu người, chiếm 66,0%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,4 triệu người, bao gồm 21,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 40,6% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,6 triệu người, chiếm 25,5%; khu vực dịch vụ 18,1 triệu người, chiếm 33,9%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2017 ước tính là 2,30% (Quý I/2016 là 2,25%), trong đó khu vực thành thị là 3,21% (Quý I/2016 là 3,08%); khu vực nông thôn là 1,82% (Quý I/2016 là 1,83%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) quý I/2017 ước tính là 6,96%, trong đó khu vực thành thị là 10,90%; khu vực nông thôn là 5,57%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 1,74%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,80%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,25% (Tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2016 tương ứng là 1,76%; 0,70%; 2,29%).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[23] quý I/2017 ước tính là 55,5%, trong đó khu vực thành thị là 47,2%; khu vực nông thôn là 63,0% (Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản quý I/2016 tương ứng là 55,7%; 47,0%; 63,7%) .

Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư những tháng đầu năm 2017 nhìn chung ổn định, thiếu đói trong nông dân giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2016. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, cả nước có 76,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 312,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,3%. Riêng tháng Ba 3,2 nghìn hộ thiếu đói, giảm 68,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 13,6 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 68%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 11,2 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng.

Công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí huy động từ ngân sách Trung ương, các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm 2017 3.775 tỷ đồng, bao gồm: 2.119 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.297 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 359 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có 9,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Giáo dục, đào tạo

Tính đến cuối tháng 3/2017, cả nước có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi[24]; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1, trong đó 12 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3[25].

Năm 2016, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh hơn 2,1 triệu lượt người, đạt 96,5% so với kế hoạch, trong đó cao đẳng nghề, trung cấp nghề tuyển sinh được 238,7 nghìn lượt người, đạt 95,5%; sơ cấp nghề tuyển sinh 1,8 triệu lượt người, đạt 96,6% kế hoạch, bao gồm 500 nghìn lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.

Toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay[26] có 1.989 cơ sở, bao gồm 219 trường cao đẳng; 303 trường trung cấp chuyên nghiệp; 190 trường cao đẳng nghề, 280 trường trung cấp nghề và 997 trung tâm giáo dục nghề nghiệp.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Ba, cả nước có 1,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 4,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong);
44 trường hợp mắc bệnh thương hàn;
29 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 5 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 3 trường hợp nhiễm vi rút Zika. Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có gần 6,3 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 14,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 87 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 73 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 10 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 16 trường hợp nhiễm vi rút Zika. Đáng chú ý trong những tháng đầu năm 2017, dịch bệnh ho gà có chiều hướng diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát tại các tỉnh phía Bắc do điều kiện thời tiết chuyển lạnh và độ ẩm cao. Các trường hợp mắc bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 3 tháng tuổi do chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh. Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã phát hiện 114 trường hợp mắc bệnh ho gà, trong đó 5 trường hợp đã tử vong.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/3/2017 là 215,9 nghìn người, trong đó 88,5 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 90,3 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 245 người bị ngộ độc, trong đó 2 trường hợp tử vong. Tính từ 18/12/2016 đến 17/3/2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 21 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 641 người bị ngộ độc, trong đó 15 trường hợp tử vong. Đáng lưu ý là từ đầu năm đến nay, trên cả nước đã xảy ra hàng chục vụ ngộ độc rượu (methanol) với số nạn nhân lên đến hàng trăm người như vụ ngộ độc methanol nghiêm trọng ở Lai Châu ngày 13/2 đã làm hơn 80 người nhập viện, trong đó 9 trường hợp tử vong; vụ ngộ độc ở Hà Giang đã làm 86 người phải nhập viện; vụ ngộ độc rượu tại Hà Nội ngày 9/3 đã làm 7 sinh viên rơi vào tình trạng nguy kịch... Trước tình hình đó, Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm Trung ương vừa ban hành Kế hoạch về việc triển khai “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2017 (từ ngày 15/4-15/5/2017) với chủ đề “Sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm tươi sống an toàn; Kiểm soát rượu, phòng tránh ngộ độc rượu”.

Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa 3 tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Đinh Dậu. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân như Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền tổ quốc” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam; Chương trình “Xuân yêu thương” tại thành phố Hồ Chí Minh; “Đường hoa Xuân” tại Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh; các hoạt động thông tin, tuyên truyền, kỷ niệm được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm; tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quản lý lễ hội được quan tâm thực hiện nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; tăng cường kiểm tra và kiên quyết xử lý những lễ hội có vi phạm, không đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.

Phong trào thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi khắp các địa phương với nhiều hoạt động phong phú như: Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Đại hội Thể dục thể thao các cấp; triển khai chương trình phối hợp về thể dục thể thao với các Bộ, ngành và kế hoạch Bơi an toàn, phòng chống tai nạn đuối nước trẻ em năm 2017; chuẩn bị tổ chức chạy tiếp sức hưởng ứng SEA Games 29 và Para Games 9.

Thể thao thành tích cao 3 tháng đầu năm đạt được những kết quả ấn tượng, giành được 18 huy chương vàng, 17 huy chương bạc và 10 huy chương đồng trên các đấu trường quốc tế. Từ đầu năm đến nay, ngành Thể thao tập trung chuẩn bị lực lượng tham dự các giải quốc tế như SEA Games 29, Para Games 9, Đại hội thể thao mùa đông Châu Á, Đại hội Thể thao trong nhà và Võ thuật Châu Á, Đại hội Thể thao trẻ Châu Á, đồng thời triển khai công tác chuẩn bị cho các giải thể thao quốc tế tổ chức tại Việt Nam.

Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/2 đến 15/3), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.347 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 652 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 695 vụ va chạm giao thông, làm 544 người chết, 423 người bị thương và 752 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Ba  giảm 1,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 5,9% và số vụ va chạm giao thông tăng 3,1%); số người chết giảm 9,8%; số người bị thương tăng 15,6% và số người bị thương nhẹ giảm 4,7%.

Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.812 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.451 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.361 vụ va chạm giao thông, làm 2.114 người chết, 1.032 người bị thương và 2.803 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm nay giảm 3,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 4,1%); số người chết giảm 3,6%; số người bị thương giảm 36,9% và số người bị thương nhẹ giảm 2,9%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 26 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 11 người bị thương và 31 người bị thương nhẹ.

Mặc dù tình hình tai nạn giao thông trong thời gian gần đây đã có sự cải thiện nhất định nhưng số vụ tai nạn đường sắt có xu hướng gia tăng tại nhiều địa phương trên địa bàn cả nước, báo động những hiểm họa tiềm ẩn đối với loại hình giao thông vốn được coi là an toàn này. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2017, cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm 37 người chết và 18 người bị thương. Tai nạn xảy ra chủ yếu tại các điểm giao cắt giữa đường sắt và đường ngang dân sinh, trong đó có một số vụ tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người và tài sản như: Vụ tai nạn tại Thừa - Thiên Huế ngày 20/2 đã làm 3 người chết, 4 người bị thương, 1 đầu máy, 4 toa xe khách và hơn 100 m đường sắt bị hư hỏng; vụ tai nạn tại Đồng Nai ngày 24/2 đã làm 2 người chết... Bên cạnh nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu ý thức của người tham gia giao thông thì việc đầu tư hạ tầng giao thông chưa hoàn chỉnh, đồng bộ cũng góp phần không nhỏ gây ra tình trạng trên. Trong thời gian tới, ngành Giao thông Vận tải cần tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông, nhất là tại các điểm giao giữa đường bộ và đường sắt.

Thiệt hại do thiên tai 

Trong 3 tháng đầu năm 2017, triều cường, lốc xoáy và mưa đá làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư tại một số địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 6 người bị thương; 2,9 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 3,2 nghìn ha lúa, 845 ha hoa màu, 260 ha cây công nghiệp, 360 ha cây lâm nghiệp, cây ăn quả và 326 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 3 tháng đầu năm ước tính hơn 57 tỷ đồng.

Tình hình xâm nhập mặn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay nhìn chung ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm, không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư. Tuy nhiên dự báo từ cuối tháng Ba trở đi, xâm nhập mặn vẫn có khả năng tăng lên và duy trì ở mức cao. Chính vì vậy các địa phương cần chủ động nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh; giám sát mặn thường xuyên, vận hành hợp lý các công trình đảm bảo tiêu thoát, ngăn mặn và đưa nước ngọt về.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Ba, cơ quan chức năng đã phát hiện 792 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 656 vụ với tổng số tiền phạt hơn 12,6 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện 4.022 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 3.427 vụ với tổng số tiền phạt gần 40 tỷ đồng.

Trong thời gian gần đây, số vụ cháy, nổ đang có xu hướng tăng cao và diễn biến phức tạp, khó lường. Trong tháng 3/2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 408 vụ cháy, nổ, làm 13 người chết và 33 người bị thương, thiệt hại ước tính 275 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.293 vụ cháy, nổ, làm 33 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 684 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 37,7%, số người chết gấp 2,5 lần, số người bị thương giảm 13,8% và thiệt hại ước tính tăng 34,2%. Các vụ cháy, nổ tập trung chủ yếu ở các khu dân cư, khu công nghiệp, cơ sở cho thuê mặt bằng để kinh doanh, trong đó một số vụ có tính chất nghiêm trọng như: Cháy tại chợ đêm thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) ngày 15/2 làm chết 3 người; vụ cháy tại thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương) ngày 26/2 làm chết 4 người; vụ cháy tại quận Bình Tân (thành phố Hồ Chí Minh) ngày 12/3 làm chết 4 người và gần đây nhất là vụ cháy tại Khu Công nghiệp Trà Nóc (Cần Thơ) ngày 23/3 gây thiệt hại rất lớn về tài sản.  

Khái quát lại, kinh tế - xã hội nước ta trong quý I năm 2017 đã có những yếu tố tích cực như xuất khẩu, thu hút khách du lịch quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá; môi trường kinh doanh được cải thiện; các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định; thiếu đói trong nông dân giảm mạnh cả về số hộ và số nhân khẩu so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ 2 năm gần đây. Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt thấp; sản xuất nông nghiệp vẫn bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn từ các năm trước; tiến độ giải ngân vốn đầu tư còn chậm; đời sống một bộ phân dân cư còn gặp khó khăn.

Năm 2017 có ý nghĩa rất quan trọng, năm then chốt trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, dự báo kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: Chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động thấp. Các cân đối của nền kinh tế chưa thật sự vững chắc. Lạm phát vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao. Tình hình thời tiết, hạn hán, xâm nhập mặn còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân. Để thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2017 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017 và các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng tín dụng phù hợp gắn với nâng cao chất lượng hiệu quả tín dụng, đồng thời chú trọng các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ khởi nghiệp. 

Hai là, thực hiện nghiêm Luật Ngân sách Nhà nước và kỷ luật tài khóa. Nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách Nhà nước, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Tăng cường các biện pháp chống thất thu, nợ đọng thuế và gian lận thương mại. Có giải pháp để chống chuyển giá dưới mọi hình thức của các doanh nghiệp thuộc khu vực FDI. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tính toán và thực hiện lộ trình điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý vào thời điểm hợp lý trong năm để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2017.

Ba là, Chính phủ cần có giải pháp phù hợp để huy động nguồn vốn đầu tư công cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ - một trong ba khâu đột phá được xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công năm 2017; thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kịp thời hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương xử lý khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn này đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí.

Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, thân thiện với môi trường. Chuyển đổi nhanh cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, phù hợp với lợi thế từng vùng, miền, nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên theo dõi, cập nhật diễn biến thời tiết, nhất là tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh, từ đó thông tin, chỉ đạo kịp thời để người dân chủ động ứng phó và có biện pháp phòng tránh.

Năm là, có chính sách thúc đẩy nhu cầu trong nước; tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng nhập khẩu. Phát triển hệ thống phân phối và bán lẻ trong nước nhằm hạn chế nước ngoài thâu tóm mạng lưới siêu thị và đưa hàng vào thị trường Việt Nam. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phát triển thị trường xuất khẩu, bao gồm cả thị trường truyền thống và các thị trường có sức mua tiềm năng cao, các thị trường đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA). Tận dụng các lợi thế mở rộng thị trường theo cơ chế Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).

Sáu là, thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%.

[2] Mức tăng quý I của ngành công nghiệp một số năm: Năm 2011: 9,16%; năm 2012: 7,86%; năm 2013: 4,43%; năm 2014: 4,17%; năm 2015: 9,27%; năm 2016: 6,92%.

[3] Diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm 2017 của vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm so với năm 2016, năm 2015 và năm 2014 lần lượt là 17,5 nghìn ha; 24,3 nghìn ha; 24,2 nghìn ha.

[4]  Giá tôm tăng khoảng 5.000-20.000 đồng/kg.

[5] Quý I: năm 2012 tăng 5,9%; năm 2013 tăng 5%; năm 2014 tăng 5,3%; năm 2015 tăng 9,3% và năm 2016 tăng 7,4%.

[6] Chỉ số sản xuất công nghiệp quí I năm 2016 tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng giảm 0,6%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,8%.

[7] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[8] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 21,9%; số vốn đăng ký tăng 45,7%.

[9] Quý I năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 24,8% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 67,2%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 34,5%.

[10] Chủ yếu do các nhà mạng thực hiện thu hồi sim rác theo qui định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

[11] Tăng trưởng tín dụng quý I một số năm: năm 2012 giảm 2,13%; năm 2013 tăng 0,03%; năm 2014 giảm 0,57%; năm 2015 tăng 1,25%; năm 2016 tăng 1,54%

[12] Trong đó: Dự án SamSung Display Việt Nam điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 2,5 tỷ USD tại Bắc Ninh;
    Dự án nước giải khát Coca-Cola Việt Nam tại Hà Nội điều chỉnh tăng vốn đầu tư 319,8 triệu USD;

[13] Ngoài ra, tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Nam 2017, UBND tỉnh Quảng Nam đã trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thỏa thuận nghiên cứu đầu tư một số ngành, lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh Quảng Nam cho 32 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 15,8 tỷ USD.

[14] Tính chung các nước ASEAN quý I năm nay có 50 dự án được cấp phép mới tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 605,1 triệu USD; có 30 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 367,3 triệu USD; có 116 lượt góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư tới từ các nước ASEAN với tổng giá trị vốn góp là 169,7 triệu USD. Tính chung vốn đăng ký cấp mới, vốn tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của của các nước ASEAN vào Việt Nam quý I năm 2017 là 1.142,1 triệu USD.

 

[15] Nhập siêu từ Trung Quốc quý I năm 2017 là 5,9 tỷ USD, giảm 8,1% so với cũng kỳ 2016.

[16] Tháng Hai ước tính nhập siêu 1,2 tỷ USD.

[17] Bao gồm: Phú Thọ, Bình Định, Hải Phòng, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Ninh Bình, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh.

[18] Mặc dù trong tháng Ba có hai đợt điều chỉnh giảm giá xăng vào thời điểm 06/3/2017 và thời điểm 21/3/2017.

[19] CPI bình quân quý I so với cùng kỳ một số năm như sau: Năm 2014 tăng 4,83%; năm 2015 tăng 0,74%; năm 2016 tăng 1,25%.

[20] Giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 68,63% tác động làm CPI quý I tăng 2,66% so cùng kỳ năm trước; giá dịch vụ giáo dục tăng 11,80% làm CPI nhóm giáo dục quý I tăng 10,20%.

[21] Bình quân quý I năm 2017, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,99% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,36% vào mức tăng CPI chung.

[22] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[23] Lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm những người không làm việc trong khu vực hộ nông nghiệp và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) lao động gia đình không được hưởng công hưởng lương; (ii) người chủ hoặc xã viên hợp tác xã của cơ sở chưa có đăng ký kinh doanh và (iii) người làm công ăn lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc.

[24]Chỉ còn tỉnh Ninh Thuận chưa được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.

[25]Theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT ngày 22/3/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về Điều kiện bo đảm và nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

[26] Theo Nghị quyết 76/NQ-CP ngày 03/9/2016 của Chính phủ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý đối với các trường sư phạm. Theo đó, 201 trường cao đẳng và 303 trường trung cấp chuyên nghiệp đã được bàn giao cho Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2017 các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp này sẽ tuyển sinh theo quy chế do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2017
  Tình hình kinh tế -xã hội 9 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2017