English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội 02 tháng đầu năm 2017

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa và rau màu vụ đông xuân. Tính đến trung tuần tháng Hai, cả nước gieo cấy được 2.613 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 109,2% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 694,7 nghìn ha, bằng 144,6%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.918,3 nghìn ha, bằng 100,3%. 

Tại các tỉnh phía Bắc, thời tiết đầu vụ tương đối thuận lợi, đủ nguồn nước cho gieo cấy, các địa phương đã tranh thủ xuống giống sớm vụ đông xuân nên tiến độ gieo cấy nhanh hơn cùng kỳ năm trước, trong đó: Hà Nội đạt 37 nghìn ha, gấp 10 lần cùng kỳ năm 2016; Ninh Bình đạt 35 nghìn ha, gấp 5 lần; Hải Dương đạt 34 nghìn ha, gấp 4 lần. Hiện nay lúa đông xuân sinh trưởng và phát triển tốt. Tại một số địa phương, tuy xuất hiện rải rác sâu bệnh gây hại trên lúa như sâu đục thân hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ, nhưng do được phát hiện và phòng chống kịp thời nên không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa.

Các địa phương phía Nam đã cơ bản hoàn thành gieo cấy lúa đông xuân. Hiện nay lúa đông xuân đang phát triển tốt, trà lúa chính vụ đang trong giai đoạn đẻ nhánh làm đòng. Tại Đồng bằng sông Cửu Long đã có gần 430 nghìn ha lúa đông xuân sớm trong đê bao cho thu hoạch, trong đó: Sóc Trăng 97 nghìn ha, chiếm 67% diện tích gieo cấy; Đồng Tháp 78 nghìn ha, chiếm 37%; Tiền Giang 38 nghìn ha, chiếm 53%.

 Tiến độ gieo trồng cây rau màu vụ đông xuân nhìn chung chậm hơn cùng kỳ năm trước, do một số cây vụ đông hiệu quả kinh tế không cao trong khi chi phí đầu vào tăng đã ảnh hưởng đến việc đầu tư thâm canh và mở rộng diện tích gieo trồng. Tính đến giữa tháng Hai, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 250 nghìn ha ngô, bằng 103% cùng kỳ năm trước; 50,5 nghìn ha khoai lang, bằng 88,4%; 20,1 nghìn ha đậu tương, bằng 59,5%; 65,8 nghìn ha lạc, bằng 85,2%; 401,1 nghìn ha rau đậu, bằng 97,3%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng nhìn chung ổn định. Đàn trâu cả nước tháng Hai ước tính giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 1,9%-2,1%; đàn lợn tăng 4,5%-5,2%; đàn gia cầm tăng 4,3%-4,8%. Tính đến thời điểm 26/2/2017, cả nước không còn dịch lợn tai xanh, các dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở một số địa phương: Dịch cúm gia cầm ở Bạc Liêu, Nam Định, An Giang, Sóc Trăng, Đồng Nai, Quảng Ngãi, Nghệ An; dịch lở mồm, long móng ở Hà Tĩnh.

 

 

Lâm nghiệp

Trong tháng Hai, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 2.226 ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 10 triệu cây, tăng 1,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 474 nghìn m­3, tăng 8,7%; sản lượng củi khai thác đạt 1,5 triệu ste, giảm 0,7%. Tính chung 2 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 3.521 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 10,7 triệu cây, tăng 0,9%; sản lượng củi khai thác đạt 3 triệu ste, giảm 1,6%. Sản lượng gỗ khai thác 2 tháng đầu năm đạt 875 nghìn m3, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Thanh Hoá đạt 89 nghìn m3, tăng 18,6%; Phú Thọ đạt 65 nghìn m3, tăng 21,2%.

Trong tháng Hai, cả nước có 74 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị cháy là 47,3 ha; diện tích bị chặt phá là 26,7 ha. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 104 ha, gấp 1,6 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 66,3 ha, gấp 2,1 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 37,7 ha, tăng 13,9%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Hai ước tính đạt 423 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 322,9 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 35,5 nghìn tấn, giảm 6,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 254 nghìn tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 200,7 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 26 nghìn tấn, giảm 4,1%.

Nuôi cá tra có dấu hiệu khởi sắc, giá cá tra tiếp tục xu hướng tăng nhanh do nhu cầu nhập khẩu cá tra từ thị trường Trung Quốc và EU tăng mạnh. Sản lượng cá tra thu hoạch tháng Hai ước tính đạt 82 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 24,8 nghìn tấn, tăng 0,4%; An Giang 24,2 nghìn tấn, giảm 3,2%; Bến Tre 17,8 nghìn tấn, tăng 26,6%.

Sản lượng tôm thu hoạch trong tháng giảm do một số diện tích nuôi tôm thâm canh đã thu hoạch vào tháng trước phục vụ tiêu dùng cho Tết Nguyên đán. Sản lượng tôm sú tháng Hai ước tính đạt 12 nghìn tấn, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Cà Mau đạt 7,2 nghìn tấn, giảm 4%; Bạc Liêu đạt 1,5 nghìn tấn, giảm 34,8%. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 11,3 nghìn tấn, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Cà Mau đạt 3,9 nghìn tấn, giảm 2,5%; Bến Tre đạt 1 nghìn tấn, giảm 19%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Hai ước tính đạt 169 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 122,2 nghìn tấn, tăng 7,6%; tôm đạt 9,5 nghìn tấn, giảm 11,2%; riêng sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Hai đạt 164,8 nghìn tấn, tăng 12,5% so cùng kỳ năm 2016.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2017, sản lượng thủy sản ước tính đạt 859,5 nghìn tấn, tăng 2,2%, so với cùng kỳ, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 466,9 nghìn tấn, tăng 2,1%; sản lượng khai thác đạt 392,6 nghìn tấn, tăng 2,4% (Sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 369,2 nghìn tấn, tăng 2,7%).

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Hai ước tính tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước (do tháng Hai năm trước trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên số ngày làm việc ít hơn). Tính chung 2 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,6%, đóng góp 4,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 9,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm mạnh ở mức 13,5%, làm giảm 2,9 điểm phần trăm mức tăng chung[1].

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 18,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 14,4%; dệt tăng 13,7%; sản xuất trang phục tăng 13%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 6,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,4%; sản xuất thuốc lá tăng 2,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,7%; khai khoáng khác tăng 0,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 2,4%; khai thác than cứng và than non giảm 6,2%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 15,9%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Thép cán tăng 35,4%; sắt thép thô tăng 21,4%; ti vi tăng 16,7%; ô tô tăng 15,2%; quần áo mặc thường tăng 14,3%; bột ngọt tăng 12,8%; sữa tươi tăng 11,4%; thức ăn cho gia súc tăng 10,2%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Xi măng tăng 5,7%; thuốc lá điếu tăng 2,6%; xe máy tăng 2%; phân hỗn hợp (NPK) tăng 1,8%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo giảm 1%; than đá giảm 6,3%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 8,5%; điện thoại di động giảm 8,9%; đường kính giảm 10,2%; dầu thô khai thác giảm 15,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 16,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 17,2%; Thái Nguyên tăng 10,1%; Đà Nẵng tăng 9,6%; Hải Dương tăng 9,4%; Quảng Nam tăng 8,6%; Bình Dương và Đồng Nai cùng tăng 5,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,8%; Hà Nội tăng 5,1%; Cần Thơ tăng 4,9%; Vĩnh Phúc tăng 2,1%; Bắc Ninh giảm 2,8%; Quảng Ninh giảm 4,5%; Quảng Ngãi giảm 6,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 7,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 1/2017 giảm 16% so với tháng trước giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ: Sản xuất thiết bị điện giảm 1,6%; sản xuất kim loại giảm 3,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 3,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 7%; sản xuất trang phục giảm 7,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 9,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 11,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 13,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 14,7%; sản xuất thuốc lá giảm 16%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Dệt tăng 10%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 9,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 6,2%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/2/2017 tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm 2016, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Dệt tăng 2,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,5%; sản xuất trang phục giảm 3,1%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 4,2%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 7,8%; sản xuất thiết bị điện giảm 14,1%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 24,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 160,9%; sản xuất đồ uống tăng 66,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 61,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 43,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 43,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 22,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 22,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 1/2017 là  74,4%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 116,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 111,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 110%; sản xuất, chế biến thực phẩm 85%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/2/2017 tăng 2,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,4%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 4,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,9%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,1%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,7%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/2/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Hải Phòng tăng 14,9%; Đà Nẵng tăng 6,4%; Vĩnh Phúc tăng 5,4%; Bình Dương tăng 3,6%; Đồng Nai tăng 3,1%; Quảng Nam tăng 2,7%; Hải Dương tăng 2%; Hà Nội tăng 1,5%; Cần Thơ tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,2%; Quảng Ngãi giảm 5,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 8,6%.

 

 

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[2]

Trong tháng Hai[3], cả nước có 5.461 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 62,3 nghìn tỷ đồng, giảm 39,3% về số doanh nghiệp và giảm 31% về số vốn đăng ký so với tháng trước do thời gian này trùng với kỳ nghỉ tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017[4]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,4 tỷ đồng, tăng 13,6% so với tháng trước; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 62,5 nghìn người, giảm 39,9%.

Trong tháng, cả nước có 2.413 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 56,6% so với tháng trước; có 3.291 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.926 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 1.365 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 75,3%; có 941 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 40,6%.

Tính chung 2 tháng đầu năm nay, cả nước có 14.451 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 152,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% về số doanh nghiệp và tăng 35% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,6 tỷ đồng, tăng 29,9%. Nếu tính cả 181,3 nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 2 tháng đầu năm 2017 là 333,9 nghìn tỷ đồng. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đầu năm là 166,6 nghìn người, bằng 83,9% cùng kỳ năm trước. Trong 2 tháng đầu năm còn có 7.977 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 2 tháng đầu năm 2017 lên hơn 22,4 nghìn doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký trong 2 tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước: Kinh doanh bất động sản tăng 43,4% về số doanh nghiệp và tăng 63,8% về vốn đăng ký; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 27,4% và tăng 134,4%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 16% và tăng 196,9%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 14,5% và tăng 36,8%; xây dựng tăng 9,9% và tăng 61,2%; giáo dục và đào tạo tăng 8,1% và tăng 13,5%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 1,5% và tăng 49,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,2% và tăng 45,8%. Một số ngành, lĩnh vực tuy số doanh nghiệp thành lập mới giảm nhưng số vốn đăng ký tăng so với cùng kỳ năm trước: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 6,9% về số doanh nghiệp và tăng 370% về số vốn đăng ký; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 5,4% và tăng 49,8%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy giảm 2,2% và tăng 28,1%. Riêng ngành khai khoáng, số doanh nghiệp thành lập mới tương đương cùng kỳ năm trước nhưng số vốn đăng ký tăng tới 217,5%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 2 tháng đầu năm 2017 là 2.524 doanh nghiệp, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước (2 tháng đầu năm 2016 tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2015), trong đó có 2.326 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92,1%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 927 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,7%); có 791 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 31,3%); có 496 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 19,7%) và  có 310 công ty cổ phần (chiếm 12,3%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 2 tháng đầu năm là 16.396 doanh nghiệp, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 8.673 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 20,1% và 7.723 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 16,5%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 3.454 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 39,8%); có 2.839 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,8%); có 1.501 công ty cổ phần (chiếm 17,3%); có 877 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,1%) và có 2 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 3.357 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,5%); có 2.257 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,2%); có 1.471 công ty cổ phần (chiếm 19%) và có 638 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 8,3%). Theo lĩnh vực hoạt động, hầu hết các ngành có số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành giảm mạnh: Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 47,5%; nghệ thuật vui chơi và giải trí giảm 39,6%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 38,0%; khai khoáng giảm 36,4%; vận tải, kho bãi giảm 33,7%.

 

 

Đầu tư

Hoạt động đầu tư, xây dựng trong tháng chủ yếu tập trung vào thực hiện các dự án, công trình chuyển tiếp và triển khai kế hoạch đầu tư năm 2017. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Hai ước tính đạt 13.606,3 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 3.005 tỷ đồng; vốn địa phương 10.601,3 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 27.819,3 tỷ đồng, bằng 9,6% kế hoạch năm và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 5.930 tỷ đồng, bằng 8,6% kế hoạch năm và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 2.950 tỷ đồng, bằng 10,2% và tăng 29,7%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 530 tỷ đồng, bằng 8,5% và giảm 7,8%; Bộ Y tế 367 tỷ đồng, bằng 7,1% và tăng 20,7%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 87 tỷ đồng, bằng 9,5% và giảm 57,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 48,5 tỷ đồng, bằng 6,7% và giảm 39,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 44 tỷ đồng, bằng 7,5% và giảm 20,7%; Bộ Xây dựng 40,5 tỷ đồng, bằng 8,9% và giảm 56,9%; Bộ Công Thương 22,5 tỷ đồng, bằng 9,2% và giảm 49,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 8,2 tỷ đồng, bằng 8,6% và giảm 59%; Bộ Thông tin và Truyền thông 7,5 tỷ đồng, bằng 7,8% và giảm 45,7%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 21.889,3 tỷ đồng, bằng 9,9% kế hoạch năm và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 14.870,3 tỷ đồng, bằng 9% và tăng 3,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 5.789,2 tỷ đồng, bằng 11,9% và tăng 24%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1.229,8 tỷ đồng, bằng 15,1% và tăng 13,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 3.297,9 tỷ đồng, bằng 10,2% kế hoạch năm và tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 974,6 tỷ đồng, bằng 2,9% và tăng 20,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu 954,9 tỷ đồng, bằng 18,1% và giảm 6,6%; Nghệ An 896,9 tỷ đồng, bằng 13,9% và tăng 11,3%; Vĩnh Phúc 842,2 tỷ đồng, bằng 14% và tăng 53,4%; Thanh Hóa 640,5 tỷ đồng, bằng 13,4% và giảm 5,3%; Kiên Giang 623 tỷ đồng, bằng 16,1% và giảm 1,3%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/2/2017 thu hút 313 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.028,9 triệu USD, tăng 7,6% về số dự án và tăng 6,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 137 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 759,5 triệu USD.

Trong 2 tháng năm nay còn có 654 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 619 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 2 tháng đầu năm 2017 đạt 3.407,4 triệu USD, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng đầu năm 2017 ước tính đạt 1.550 triệu USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 2 tháng đầu năm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 1.476,4 triệu USD, chiếm 72,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 309 triệu USD, chiếm 15,2%; các ngành còn lại đạt 243,5 triệu USD, chiếm 12%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 2 tháng đầu năm đạt 2.501,8 triệu USD, chiếm 73,4% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 345,6 triệu USD, chiếm 10,1%; các ngành còn lại đạt 560 triệu USD, chiếm 16,5%.

Trong 2 tháng đầu năm, cả nước có 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Bình Dương có số vốn đăng ký lớn nhất với 706,7 triệu USD[5], chiếm 34,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến Tây Ninh 272 triệu USD, chiếm 13,4%; Bắc Giang 160,5 triệu USD, chiếm 7,9%; Nghệ An 122,2 triệu USD, chiếm 6%; thành phố Hồ Chí Minh 119,1 triệu USD, chiếm 5,9%; Đồng Nai 117,4 triệu USD, chiếm 5,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu 108,7 triệu USD, chiếm 5,4%.

Trong số 34 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 2 tháng năm nay, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 608 triệu USD, chiếm 30% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 441,4 triệu USD, chiếm 21,8%; Hàn Quốc 422,1 triệu USD, chiếm 20,8%; Nhật Bản 117,5 triệu USD, chiếm 5,8%; Quần đảo Vigin thuộc Anh 105,8 triệu USD, chiếm 5,2%.

 

 

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/2/2017 ước tính đạt 131,8 nghìn tỷ đồng, bằng 10,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 113,3 nghìn tỷ đồng, bằng 11,4%; thu từ dầu thô 5,2 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 13,3 nghìn tỷ đồng, bằng 7,4%. Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 9,3 nghìn tỷ đồng, bằng 14,6% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 28,1 nghìn tỷ đồng, bằng 14,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 24,7 nghìn tỷ đồng, bằng 12,3%; thu thuế thu nhập cá nhân 9,5 nghìn tỷ đồng, bằng 11,8%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 24,4 nghìn tỷ đồng, bằng 8,5%; thu thuế bảo vệ môi trường 3,1 nghìn tỷ đồng, bằng 6,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/2/2017 ước tính đạt 134,8 nghìn tỷ đồng, bằng 9,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 12,5 nghìn tỷ đồng, bằng 3,5%; chi trả nợ lãi 13,9 nghìn tỷ đồng, bằng 14,1%; chi thường xuyên 108,2 nghìn tỷ đồng, bằng 12,1%. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/2/2017 ước tính đạt 19,6 nghìn tỷ đồng, bằng 12% dự toán năm.

Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng đã trở lại ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nhưng có xu hướng giảm so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai ước tính đạt 309,3 nghìn tỷ đồng, giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 234,1 nghìn tỷ đồng, giảm 7,6% và tăng 8%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 37,7 nghìn tỷ đồng, giảm 1% và tăng 3,1%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, giảm 10,5% và giảm 0,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 34,9 nghìn tỷ đồng, giảm 4,1% và tăng 6,4%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 640 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,6% (thấp hơn mức tăng 7,6% của cùng kỳ năm 2016[6]). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 2 tháng đầu năm ước tính đạt 487,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,2% tổng mức và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 10%; may mặc tăng 9,6%; phương tiện đi lại tăng 9,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,7%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 5,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm ước tính đạt 75,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng: Thanh Hóa tăng 13,3%; Bình Thuận tăng 12%; Hải Phòng tăng 7,4%; Quảng Ninh tăng 7,1%; Đồng Tháp tăng 5,9%. Riêng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống của hai thành phố lớn giảm, trong đó Hà Nội giảm 4,1%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 3,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 2 tháng đầu năm ước tính đạt 5,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá: Cần Thơ tăng 26,2%; Quảng Ninh tăng 16,2%; Đồng Nai tăng 9,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,9%. Một số địa phương doanh thu giảm nhiều: Quảng Trị giảm 36,6%; Lào Cai giảm 29,6%; Phú Yên giảm 29,4%; Quảng Bình giảm 15,2%; Lai Châu giảm 8%.

Doanh thu dịch vụ khác 2 tháng ước tính đạt 71,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng mức và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2016. Một số địa phương có doanh thu tăng: Cần Thơ tăng 21,7%; Lâm Đồng tăng 14%; Nghệ An tăng 11,3%; Quảng Trị tăng 9,3%; Hà Nội tăng 6,1%; Thái Nguyên tăng 5,3%; Nam Định tăng 4,2%; Phú Yên tăng 2,3%.

 

 

 Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 1/2017 đạt 14.342 triệu USD, thấp hơn 258 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện thấp hơn 171 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 96 triệu USD; thủy sản thấp hơn 57 triệu USD; giày dép thấp hơn 31 triệu USD; sắn và sản phẩm của sắn thấp hơn 20 triệu USD; hạt điều thấp hơn 16 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 107 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng cao hơn 100 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 77 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Hai năm nay ước tính đạt 13,00 tỷ USD, giảm 9,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 3,48 tỷ USD, giảm 16,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 9,52 tỷ USD, giảm 6,5%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch giảm nhiều so với tháng trước: Hàng dệt may giảm 30,4%; giày dép giảm 23%; phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 25%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 34,3%; thủy sản giảm 18,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Hai năm nay tăng 28,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 32,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 27,1%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 27,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,6 tỷ USD, tăng 12,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 19,7 tỷ USD, tăng 16,8%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 4,8 tỷ USD, tăng 2,6%; hàng dệt may đạt 3,7 tỷ USD, tăng 12,2%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,1 tỷ USD, tăng 34,4%; giày dép đạt 2,1 tỷ USD, tăng 10,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 1,9 tỷ USD, tăng 49,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,1 tỷ USD, tăng 12,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1 tỷ USD, tăng 7,7%; thủy sản đạt 893 triệu USD, tăng 2,5%; cà phê đạt 610 triệu USD, tăng 21,2%; rau quả đạt 434 triệu USD, tăng 31,1%; dầu thô đạt 432 triệu USD, tăng 46,3% (lượng giảm 9,6%). Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Gạo đạt 328 triệu USD, giảm 21,4% (lượng giảm 18,4%); hạt điều đạt 255 triệu USD, giảm 3,3% (lượng giảm 19,7%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 152 triệu USD, giảm 15,9% (lượng giảm 6,4%); hạt tiêu đạt 129 triệu USD, giảm 27% (lượng giảm 7,4%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 2 tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 6 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 5,4 tỷ USD, tăng 13,2%; Trung Quốc đạt 3,3 tỷ USD, tăng 36,4%; ASEAN đạt 2,9 tỷ USD, tăng 15,9%; Nhật Bản đạt 2,3 tỷ USD, tăng 15,3%; Hàn Quốc đạt 1,9 tỷ USD, tăng 31,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 1/2017 đạt 13.188 triệu USD, thấp hơn 1.512 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác thấp hơn 265 triệu USD; vải thấp hơn 138 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 122 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép thấp hơn 82 triệu USD; ô tô thấp hơn 73 triệu USD; chất dẻo thấp hơn 70 triệu USD; kim loại thường khác thấp hơn 62 triệu USD; sắt thép và sản phẩm chất dẻo cùng thấp hơn 46 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Hai ước tính đạt 14,20 tỷ USD, tăng 7,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,60 tỷ USD, tăng 1,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,60 tỷ USD, tăng 12,1%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với tháng trước: Điện thoại và linh kiện tăng 7,8%; sắt thép tăng 13,5%; vải tăng 13,3%; chất dẻo tăng 12,9%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Hai tăng 39,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 49,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 33,1%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 27,4 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 11,1 tỷ USD, tăng 22%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16,3 tỷ USD, tăng 18%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 4,7 tỷ USD, tăng 28,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4,3 tỷ USD, tăng 11,1%; điện thoại và linh kiện đạt 1,7 tỷ USD, tăng 14,9%; sắt thép đạt 1,4 tỷ USD, tăng 41,8%; chất dẻo đạt 953 triệu USD, tăng 23,4%.

Về thị trường nhập khẩu 2 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 8 tỷ USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2016[7]. Tiếp đến là Hàn Quốc đạt 5,6 tỷ USD, tăng 35%; ASEAN đạt 3,6 tỷ USD, tăng 11%; Nhật Bản đạt 2 tỷ USD, giảm 0,2%; EU đạt 1,7 tỷ USD, tăng 24,6%; Hoa Kỳ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 31,4%.

Cán cân thương mại thực hiện tháng Một xuất siêu 1,15 tỷ USD[8]. Tháng Hai ước tính nhập siêu 1,2 tỷ USD, chủ yếu do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp thường bắt đầu vào chu kỳ sản xuất mới nên nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sản xuất cao hơn tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,12 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 925 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2017 nhập siêu 46 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,48 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 3,43 tỷ USD.

 

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2017 tăng 0,23% so với tháng trước, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 0,77%, chủ yếu do tác động của giá gas được điều chỉnh tăng 28.000 đồng/bình từ đầu tháng và nhu cầu điện, nước sinh hoạt tăng khi thời tiết đang chuyển dần sang mùa nóng. Nhóm giao thông tăng 0,56% do giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng tại thời điểm 03/2/2017 và 18/2/2017 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tháng Hai tăng 1,19%, tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,05%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,15%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11%, trong đó lương thực tăng 0,25%, thực phẩm giảm 0,28%[9]; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,02% (do nhu cầu tiêu dùng trong dịp lễ hội đầu năm tăng lên); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; bưu chính viễn thông giảm 0,07%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,05%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; nhóm giáo dục không có biến động so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 2 tháng đầu năm nay tăng 5,12% so với cùng kỳ năm 2016. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2017 tăng 0,69% so với tháng 12/2016 và tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 2/2017 tăng 2,45% so với tháng trước; tăng 2,26% so với tháng 12/2016 và tăng 10,42% so với cùng kỳ năm 2016. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2/2017 giảm 0,07% so với tháng trước; giảm 0,15% so với tháng 12/2016 và tăng 1,12% so với cùng kỳ năm 2016.

Lạm phát cơ bản tháng 2/2017 tăng 0,20% so với tháng trước và tăng 1,51% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản 2 tháng đầu năm nay tăng 1,69% so với cùng kỳ năm 2016.

 

 

Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Hai ước tính đạt 327,5 triệu lượt khách, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước và 14,9 tỷ lượt khách.km, tăng 8,9%. Tính chung 2 tháng, vận tải hành khách đạt 644,7 triệu lượt khách, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và 29,5 tỷ lượt khách.km, tăng 10%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 606,5 triệu lượt khách, tăng 8,7% và 19,9 tỷ lượt khách.km, tăng 7,9%; đường biển đạt 1,1 triệu lượt khách, tăng 8,6% và 54,3 triệu lượt khách.km, tăng 5,1%. Vận tải bằng đường hàng không đạt khá với 6,9 triệu lượt khách, tăng 12,4% và 8,2 tỷ lượt khách.km, tăng 17,4%. Vận tải đường sắt đạt 1,7 triệu lượt khách, giảm 8,4% và 0,8 tỷ lượt khách.km, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Vận tải hàng hóa tháng Hai ước tính đạt 115,1 triệu tấn, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước và 21 tỷ tấn.km, tăng 7,2%. Tính chung 2 tháng, vận tải hàng hóa đạt 233,9 triệu tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước và 42,6 tỷ tấn.km, tăng 7,7%, trong đó vận tải trong nước đạt 228,4 triệu tấn, tăng 15,7% và 20,6 tỷ tấn.km, tăng 13,9%; vận tải ngoài nước đạt 5,5 triệu tấn, tăng 1,2% và 22 tỷ tấn.km, tăng 2,4%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 182,5 triệu tấn, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước và 11,2 tỷ tấn.km, tăng 18,7%; đường sông đạt 39,6 triệu tấn, tăng 11,5% và 8,5 tỷ tấn.km, tăng 16,6%; đường biển đạt 11 triệu tấn, tăng 13,7% và 22,3 tỷ tấn.km, tăng 0,4%; riêng đường sắt đạt 0,8 triệu tấn, giảm 4,2% và 0,5 tỷ tấn.km, giảm 8%.

 

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Hai ước tính đạt 1.199,4 nghìn lượt người, tăng 19,1% so với tháng trướctăng 42,2% so với cùng kỳ năm trước, là tháng đón lượng khách quốc tế lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây do đang vào mùa lễ hội đầu năm với nhiều sự kiện hấp dẫn thu hút du khách quốc tế. Tính chung 2 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 2.206,7 nghìn lượt người, tăng 33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 1.819 nghìn lượt người, tăng 37,1%; đến bằng đường bộ đạt 298,2 nghìn lượt người, tăng 3,6%; đến bằng đường biển đạt 89,5 nghìn lượt người, tăng 101,3%.

Trong 2 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 1.563,9 nghìn lượt người, tăng 39,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 651,3 nghìn lượt người, tăng 77,7%; Hàn Quốc 364,5 nghìn lượt người, tăng 25%; Nhật Bản 129,7 nghìn lượt người, tăng 5,3%; Đài Loan 103,8 nghìn lượt người, tăng 20,2%; Ma-lai-xi-a 70,9 nghìn lượt người, tăng 18,5%; Thái Lan 54,2 nghìn lượt người, tăng 24,7%; Cam-pu-chia 40,9 nghìn lượt người, tăng 76%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 378,2 nghìn lượt người, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 118,1 nghìn lượt người, tăng 59,7%; Vương quốc Anh 51 nghìn lượt người, tăng 14,1%; Pháp 48,1 nghìn lượt người, tăng 13,2%; Đức 39,9 nghìn lượt người, tăng 15,9%; Thụy Điển 15,3 nghìn lượt người, tăng 31%; Hà Lan 12,6 nghìn lượt người, tăng 24,7%; I-ta-li-a 12 nghìn lượt người, tăng 16,6%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 179,1 nghìn lượt người, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 130,8 nghìn lượt người, tăng 11,3%. Khách đến từ châu Úc đạt 79,1 nghìn lượt người, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 72 nghìn lượt người, tăng 5,1%. Khách đến từ châu Phi đạt 6,4 nghìn lượt người, tăng 43,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Một số tình hình xã hội

Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Trong tháng 2/2017, cả nước có 29,5 nghìn hộ thiếu đói, giảm 60,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 119,4 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 60,5%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2017, cả nước có 73,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 298,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 20,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 5,3 nghìn tấn lương thựckhoảng 1,1 tỷ đồng, riêng trong tháng Hai hỗ trợ 1,2 nghìn tấn lương thực và hơn 800 triệu đồng.

Công tác an sinh xã hội trong dịp Tết Đinh Dậu 2017 được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, có khoảng 7,2 triệu phần quà với tổng trị giá gần 3,2 nghìn tỷ đồng được trao cho các gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, các đối tượng chính sách và 826 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo ăn Tết.

 Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Hai, cả nước có 2,9 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 6,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 33 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 36 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 3 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu6 trường hợp nhiễm vi rút Zika. Tính chung 2 tháng đầu năm 2017, cả nước có 4,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 9,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 43 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 44 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 5 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 13 trường hợp nhiễm vi rút Zika.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/2/2017215,6 nghìn người, trong đó 88,3 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 90,1 nghìn người[10].

Trong tháng 2/2017 đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 368 người bị ngộ độc, trong đó 7 trường hợp tử vong. Riêng vụ ngộ độc methanol nghiêm trọng tại Lai Châu ngày 10/2 đã làm 40 người bị ngộ độc (7 trường hợp tử vong). Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 396 người bị ngộ độc, trong đó 11 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/1 đến 15/2), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.763 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 947 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 816 vụ va chạm giao thông, làm 826 người chết, 446 người bị thương và 1.036 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Hai giảm 7,4% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,9% và số vụ va chạm giao thông giảm 11,2%); số người chết giảm 3,5%; số người bị thương giảm 40,5% và số người bị thương nhẹ giảm 3%. Riêng trong 7 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 đã xảy ra 368 vụ tai nạn giao thông, làm 203 người chết và 417 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong kỳ nghỉ Tết năm nay xảy ra gần 53 vụ tai nạn giao thông, làm 29 người chết và 60 người bị thương.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 3.465 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 1.799 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.666 vụ va chạm giao thông, làm 1.570 người chết, 609 người bị thương và 2.051 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 2 tháng đầu năm 2017 giảm 4,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,7%; số vụ va chạm giao thông giảm 6,8%); số người chết giảm 1,3%; số người bị thương giảm 52% và số người bị thương nhẹ giảm 2,2%. Bình quân 1 ngày trong 2 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, gồm 29 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 27 vụ va chạm giao thông, làm 25 người chết, 10 người bị thương và 33 người bị thương nhẹ.

Đáng lưu ý, vận tải đường sắt - loại hình giao thông trên bộ an toàn nhất lại có tình trạng tai nạn giao thông tăng cao và diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 32 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm 25 người chết và 16 người bị thương. Tai nạn xảy ra chủ yếu tại các điểm giao cắt giữa đường sắt và đường bộ, trong đó có một số vụ nghiêm trọng tại Nam Định, Hưng Yên, Thừa Thiên - Huế, Đồng Nai... Trong thời gian tới, ngành Giao thông Vận tải cần có các giải pháp cấp bách để giải quyết hiệu quả tình trạng trên.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 2/2017, cơ quan chức năng đã phát hiện 2.308 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 1.982 vụ với tổng số tiền phạt là 29 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm nay đã phát hiện 4.666 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 3.702 vụ với tổng số tiền phạt 46 tỷ đồng.

Trong tháng, cả nước xảy ra 439 vụ cháy, nổ, làm 14 người chết và 15 người bị thương, thiệt hại ước tính 335 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 885 vụ cháy, nổ, làm 20 người chết và 36 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 400 tỷ đồng./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 

 

 

 

 



[1] Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm 2016 tăng 6,8%, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 0,2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%.

[2] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[3] Tính từ 20/1-19/2/2017.

[4] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 2,2%; số vốn đăng ký tăng 15,8%.

[5] Trong đó một số dự án có vốn đầu tư lớn như: Dự án Khu công nghiệp Việt Nam Singapore III với tổng vốn đầu tư 284,8 triệu USD; Dự án sản xuất sợi lốp KVT-1 với tổng vốn đầu tư 220 triệu USD; Dự án Công ty cổ phần Tetra Pak Bình Dương với tổng vốn đầu tư 124 triệu USD.    

[6] Do giá cả hàng hóa và dịch vụ bình quân 2 tháng năm nay cao hơn so với cùng kỳ năm 2016.

[7] Nhập siêu từ thị trường Trung Quốc 2 tháng đầu năm 2017 ước tính 4,7 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2016.

[8] Ước tính tháng Một nhập siêu 100 triệu USD.

[9] Trong đó giá thịt lợn giảm 1,49% do lượng cung dồi dào, nhu cầu tiêu dùng trong nước giảm, trong khi xuất khẩu thịt lợn sang thị trường Trung Quốc theo đường tiểu ngạch bị hạn chế.

[10] Số liệu được điều chỉnh sau khi các địa phương tiến hành rà soát lại tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016