English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018

 

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa đông xuân và gieo trồng cây hoa màu trên cả nước. Tính đến thời điểm 15/1/2018, cả nước gieo cấy được 1.807,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 56,7 nghìn ha, bằng 73,4%; các địa phương phía Nam đạt 1.750,4 nghìn ha, bằng 100,2%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.444,5 nghìn ha, bằng 99,4%. Tiến độ gieo cấy lúa đông xuân tại các địa phương phía Bắc đạt thấp do năm nay lịch thời vụ được bố trí chậm hơn năm trước và ảnh hưởng của đợt không khí lạnh kéo dài trong nửa đầu tháng Một. Hiện nay, lúa đông xuân đang phát triển ổn định, trong đó trên 73,2 nghìn ha lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thu hoạch, giảm 43,7% so với cùng kỳ năm 2017 do nước lũ lên cao đã ảnh hưởng đến thời điểm xuống giống.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng Một, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 152,9 nghìn ha ngô, bằng 89,1% cùng kỳ năm trước; 38 nghìn ha khoai lang, bằng 92,9%; 7,4 nghìn ha đậu tương, bằng 49,7%; 25,5 nghìn ha lạc, bằng 108,1%; 346,3 nghìn ha rau, đậu, bằng 106,4%. Diện tích gieo trồng một số loại cây vụ đông giảm do chi phí sản xuất cao, hiệu quả kinh tế thấp không hấp dẫn bà con nông dân đầu tư sản xuất.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định; chăn nuôi gia cầm đạt khá, đảm bảo nguồn cung đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất. Riêng chăn nuôi lợn, mặc dù giá thịt lợn hơi trong tháng giáp Tết có xu hướng tăng nhẹ nhưng do chi phí không giảm nên người chăn nuôi e ngại tái đàn; các gia trại, trang trại và doanh nghiệp tiếp tục nuôi nhưng có xu hướng phát triển cầm chừng, không tăng quy mô tổng đàn. Ước tính tháng Một, đàn trâu cả nước giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,5%; đàn gia cầm tăng 6,8%; đàn lợn giảm 5,4%. Tính đến thời điểm 25/1/2018, cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

 

 
b. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng và chuẩn bị cho Tết trồng cây xuân Mậu Tuất. Trong tháng Một, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 2.845 ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 715 nghìn cây, giảm 0,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 620 nghìn m3, tăng 5,6%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Quảng Ngãi đạt 54 nghìn m3, tăng 9,1%; Quảng Nam đạt 45 nghìn m3, tăng 7,1%; Thừa Thiên - Huế  đạt 23,8 nghìn m3, tăng 8,7%. Sản lượng củi khai thác đạt 1,5 triệu ste, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Một là 27,6 ha, giảm 34,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó diện tích rừng bị cháy là 4,3 ha, giảm 80,1%; diện tích rừng bị chặt phá là 23,3 ha, tăng 12,8%, trong đó: Phú Yên 11,5 ha; Đắk Nông 6,9 ha.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Một ước tính đạt 525,7 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 391,5 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 47,1 nghìn tấn, tăng 6,8%; thủy sản khác đạt 87,1 nghìn tấn, tăng 0,9%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 208,3 nghìn tấn, tăng 4,2%; tôm đạt 34,7 nghìn tấn, tăng 8,1%. Nuôi cá tra gặp thuận lợi do nhu cầu chuẩn bị hàng cho dịp Tết Nguyên đán và phục vụ đơn hàng tăng lên của các nhà máy chế biến thủy sản. Giá cá tra thương phẩm ổn định[1] nhưng nguồn cung không còn nhiều do thời điểm này người nuôi đang tiến hành cải tạo, chuẩn bị ao nuôi. Sản lượng cá tra tháng 1/2018 ước tính đạt 91,5 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 24,5 nghìn tấn, tăng 1,2%; Đồng Tháp đạt 32,2 nghìn tấn, tăng 3,7%; Cần Thơ đạt 7,2 nghìn tấn, tăng 7%. Nuôi tôm nước lợ đạt khá, mô hình nuôi siêu thâm canh đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Sản lượng tôm sú tháng Một ước tính đạt 13,7 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 17,6 nghìn tấn, tăng 10%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Một ước tính đạt 251,4 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 183,2 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 12,4 nghìn tấn, tăng 3,3%. Riêng sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Một ước tính đạt 236 nghìn tấn, tăng 4%, trong đó cá đạt 172,9 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 11,2 nghìn tấn, tăng 3,7%.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 1/2018 ước tính tăng cao ở mức 20,9% so với cùng kỳ năm 2017[2], chủ yếu do thời gian nghỉ Tết Nguyên đán năm nay không trùng vào tháng Một như năm 2017 và là thời điểm các doanh nghiệp tập trung sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 23,8%, đóng góp 17,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,4%, đóng góp 1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 10,5%, đóng góp 2,3 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong tháng Một năm nay, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khai thác quặng kim loại tăng 52,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 38%; khai thác than cứng và than non tăng 29,1%; sản xuất kim loại tăng 27,1%; sản xuất trang phục tăng 25,8%; dệt tăng 23%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,3%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 4,7%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 0,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 3%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng giảm 22,4%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 1/2018 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Tivi tăng 62,9%; sữa bột tăng 51%; sữa tắm, sữa rửa mặt tăng 34,1%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 33,8%; xi măng tăng 29,7%; sắt, thép thô tăng 28,4%; than đá tăng 27,1%; sơn hóa học tăng 24,6%; thép thanh, thép góc tăng 24,1%; khí đốt thiên nhiên tăng 22,1%; bia tăng 21,5%; thuốc lá điếu tăng 21,2%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Bột ngọt tăng 4,3%; giày, dép da tăng 3,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 3,4%; dầu gội đầu, dầu xả tăng 1,9%; thức ăn cho gia súc bằng cùng kỳ năm trước; phân u rê giảm 8,6%; dầu thô khai thác giảm 10,6%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2018 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Đà Nẵng tăng 48,7%; Bắc Ninh tăng 47,2% (tập trung ở sản xuất các sản phẩm và linh kiện điện tử xuất khẩu toàn cầu); Hải Phòng tăng 31,3%; Quảng Ninh tăng 29%; Quảng Nam tăng 26,3%; Vĩnh Phúc tăng 24,5%; Bình Dương tăng 24,2%; Hải Dương tăng 19,5%; Thái Nguyên tăng 15,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 15%; Hà Nội tăng 14,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 9,1%; Đồng Nai tăng 8,8%; Cần Thơ tăng 8,7%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/1/2018 tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 2,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 5,8%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 0,4%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,7%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/1/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 20,3%; Thái Nguyên tăng 10,2%; Hải Phòng tăng 9,9%; Vĩnh Phúc tăng 8,8%; Cần Thơ tăng 8,1%; Bình Dương tăng 6,8%; Hải Dương tăng 6%; Quảng Nam tăng 3,4%; Đồng Nai tăng 3%; Đà Nẵng tăng 2%; Hà Nội tăng 1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 0,4%; Quảng Ninh giảm 3%.

 

 
   3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[3]

Trong tháng 1/2018, cả nước có 10.839 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 98,3 nghìn tỷ đồng, tăng 20,6% về số doanh nghiệp và tăng 8,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,1 tỷ đồng, giảm 9,7%[4]. Nếu tính cả 218,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong tháng Một là 316,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 4.587 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 17,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Một năm nay lên hơn 15,4 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 85,3 nghìn người, bằng 82% cùng kỳ năm 2017.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong tháng Một năm nay có 3,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ (chiếm 35,1% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước; 1,4 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,7%), tăng 21,1%; 1,3 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,2%), tăng 6,2%; 799 doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,4%), tăng 6,3%; 643 doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,9%), tăng 42,3%; 608 doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,6%), tăng 34,2%; 461 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 4,3%), tăng 47,8%; 283 doanh nghiệp giáo dục và đào tạo (chiếm 2,6%), tăng 48,2%.

Số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Một năm nay tại các vùng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vùng Đông Nam Bộ có 4,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 18% (vốn đăng ký 35,9 nghìn tỷ đồng, giảm 12,8%); Đồng bằng sông Hồng 3,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 18,7% (vốn đăng ký 32 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 1,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 30,6% (vốn đăng ký 15,5 nghìn tỷ đồng, tăng 112,1%); Đồng bằng sông Cửu Long 860 doanh nghiệp, tăng 17,6% (vốn đăng ký 7,7 nghìn tỷ đồng, tăng 40,3%); Trung du và miền núi phía Bắc 497 doanh nghiệp, tăng 38,4% (vốn đăng ký 5,7 nghìn tỷ đồng, giảm 4,3%); Tây Nguyên 288 doanh nghiệp, tăng 15,2% (vốn đăng ký 1,4 nghìn tỷ đồng, giảm 56,7%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong tháng là 13.300 doanh nghiệp, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 8.622 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 26,4% và 4.678 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 27,7%. Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 3.857 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 44,7%); 2.622 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 30,4%); 1.387 công ty cổ phần (chiếm 16,2%); 754 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 8,7%) và 2 công ty hợp danh. Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong ngành bán buôn, bán lẻ là 3,3 nghìn doanh nghiệp (chiếm 38,4%), tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước; 1,3 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 15,3%), tăng 21,6%; 1,1 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 13,1%), tăng 23%; 433 doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5%), tăng 45,3%... Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 2.369 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 50,6%); 1.247 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 26,7%); 780 công ty cổ phần (chiếm 16,7%) và 282 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 6%).

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong tháng 1/2018 là 1.554 doanh nghiệp, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 1.425 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,7%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể có 718 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 46,2%); 422 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 27,2%); 218 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 14%) và 196 công ty cổ phần (chiếm 12,6%).

 

 
   4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Một ước tính đạt 16.175 tỷ đồng, bằng 4,9% kế hoạch năm và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2017, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 3.192 tỷ đồng, bằng 4,8% kế hoạch năm và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 1.158 tỷ đồng, bằng 6,3% và giảm 9,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 323 tỷ đồng, bằng 4% và tăng 14,2%; Bộ Y tế 216 tỷ đồng, bằng 6,5% và tăng 2,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 62 tỷ đồng, bằng 4,2% và tăng 78,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 62 tỷ đồng, bằng 4,5% và tăng 35,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 46 tỷ đồng, bằng 6,1% và tăng 44,2%; Bộ Xây dựng 16 tỷ đồng, bằng 5,9% và giảm 16,5%; Bộ Công Thương 11 tỷ đồng, bằng 5% và giảm 2,7%; Bộ Khoa học và Công nghệ 9 tỷ đồng, bằng 3,5% và tăng 60,4%; Bộ Thông tin và Truyền thông 5 tỷ đồng, bằng 3,8% và tăng 24,4%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 12.983 tỷ đồng, bằng 4,9% kế hoạch năm và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 8.905 tỷ đồng, bằng 4,4% và tăng 16,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 3.368 tỷ đồng, bằng 5,9% và tăng 12,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 710 tỷ đồng, bằng 7,6% và tăng 9,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 2.096 tỷ đồng, bằng 5,5% kế hoạch năm và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 603 tỷ đồng, bằng 1,5% và tăng 14,4%; Nghệ An 504 tỷ đồng, bằng 8,6% và tăng 5,1%; Vĩnh Phúc 493 tỷ đồng, bằng 8,3% và tăng 4,2%; Hải Phòng 467 tỷ đồng, bằng 5,1% và tăng 77%; Thanh Hóa 460 tỷ đồng, bằng 7,3% và tăng 46,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu 436 tỷ đồng, bằng 6,7% và giảm 12,5%; Kiên Giang 375 tỷ đồng, bằng 8,4% và tăng 20,7%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/1/2018 thu hút 166 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 442,6 triệu USD, giảm 5,1% về số dự án và giảm 64,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 61 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 456,8 triệu USD, tăng 155% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm đạt 899,4 triệu USD, giảm 36,8% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tháng 1/2018 ước tính đạt 1.050 triệu USD, tăng 10,5% so với tháng 1/2017. Trong tháng còn có 415 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 356 triệu USD, tăng 54,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 212 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 199,1 triệu USD và 203 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 156,9 triệu USD.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các dự án cấp mới trong tháng tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với số vốn đăng ký đạt 330,6 triệu USD, chiếm 74,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 60 triệu USD, chiếm 13,5%; các ngành còn lại đạt 52 triệu USD, chiếm 11,8%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng 1/2018 đạt 746,8 triệu USD, chiếm 83% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 60 triệu USD, chiếm 6,7%; các ngành còn lại đạt 92,6 triệu USD, chiếm 10,3%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 162,2 triệu USD, chiếm 45,6% tổng giá trị góp vốn; ngành ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 60,7 triệu USD, chiếm 17%; các ngành còn lại đạt 133,1 triệu USD, chiếm 37,4%.

Cả nước có 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong tháng 1/2018, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có số vốn đăng ký lớn nhất với 86,2 triệu USD, chiếm 19,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nam Định 80,2 triệu USD, chiếm 18,1%; Ninh Thuận 60 triệu USD, chiếm 13,6%; Bình Dương 36,7 triệu USD, chiếm 8,3%; Long An 35,2 triệu USD, chiếm 7,9%; Bắc Giang 27,3 triệu USD, chiếm 6,2%; Hà Nội 25,7 triệu USD, chiếm 5,8%.

Trong số 23 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong tháng Một năm nay, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 147,7 triệu USD, chiếm 33,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 70,4 triệu USD, chiếm 15,9%; Na Uy 70,1 triệu USD, chiếm 15,8%; Quần đảo Vigin thuộc Anh 51,4 triệu USD, chiếm 11,6%; Trung Quốc 20,1 triệu USD, chiếm 4,5%; In-đô-nê-xi-a 20 triệu USD, chiếm 4,5%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 16,5 triệu USD, chiếm 3,7%.

 

 
   5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 1/2018 ước tính đạt 19,9 nghìn tỷ đồng, bằng 1,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 13 nghìn tỷ đồng, bằng 1,2%; thu từ dầu thô đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, bằng 3,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 5,7 nghìn tỷ đồng, bằng 3,2%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 447 tỷ đồng, bằng 0,3% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 688 tỷ đồng, bằng 0,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 2,5 nghìn tỷ đồng, bằng 1,1%; thu thuế thu nhập cá nhân 1,2 nghìn tỷ đồng, bằng 1,2%; thu thuế bảo vệ môi trường 100 tỷ đồng, bằng 0,2%; thu tiền sử dụng đất 3,3 nghìn tỷ đồng, bằng 3,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng Một ước tính đạt 38,3 nghìn tỷ đồng, bằng 2,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, bằng 0,6%; chi trả nợ lãi 5 nghìn tỷ đồng, bằng 4,4%; chi thường xuyên 30,8 nghìn tỷ đồng, bằng 3,3%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ trong tháng giáp Tết Nguyên đán diễn ra sôi động, nhu cầu mua sắm của người dân tăng. Các doanh nghiệp và hệ thống siêu thị đã chủ động dự trữ hàng hóa, nguyên liệu nhằm đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Mậu Tuất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 1/2018 ước tính đạt 361,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,38%.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Một ước tính đạt 272 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 4,1% và tăng 7,5%; may mặc tăng 4,4% và tăng 7,5%; phương tiện đi lại tăng 2,9% và tăng 5,6%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 1,9% và tăng 8,7%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 4,7% và tăng 8%. Một số địa phương có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Hà Nội tăng 16,2%; Hải Phòng tăng 13,6%; Bắc Ninh tăng 13,1%; Đà Nẵng tăng 13%; Cần Thơ tăng 12,9%; Khánh Hòa tăng 12,4%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 1/2018 ước tính đạt 45,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có doanh thu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như Quảng Ninh tăng 29,9%; Thanh Hóa tăng 15,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,9%; Hà Nội tăng 8,5%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng khá so với cùng kỳ năm trước do lượng khách quốc tế và du lịch trong nước tăng cao, đồng thời dịch vụ ăn uống ngoài gia đình có xu hướng tăng trong những ngày đầu năm mới.

Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước tính đạt 3,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của một số địa phương tăng cao: Ninh Bình tăng 75,7% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Ninh tăng 45,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 44,1%; Bắc Ninh tăng 34,2%; Hà Nội tăng 33,2%. Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng đạt khá chủ yếu do tác động tích cực của các chính sách, biện pháp thu hút khách du lịch và các chiến lược xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam.

Doanh thu dịch vụ khác tháng Một ước tính đạt 40,1 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Cao Bằng tăng 18,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 17,1%; Ninh Thuận tăng 11,7%.

 

 
   b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 12/2017 đạt 19.654 triệu USD, cao hơn 354 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 199 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 128 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 64 triệu USD; sắt thép cao hơn 51 triệu USD; rau quả thấp hơn 16 triệu USD; gạo thấp hơn 22 triệu USD; hóa chất thấp hơn 30 triệu USD. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện năm 2017 đạt 214 tỷ USD, cao hơn 249 triệu USD so với ước tính[5].

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2018 ước tính đạt 19,0 tỷ USD, giảm 3,3% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,41 tỷ USD, giảm 5,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,59 tỷ USD, giảm 2,6%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng giảm so với tháng trước như: Sắt thép giảm 28,3%; giày dép giảm 11,5%; hàng dệt may giảm 7,2%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng: Gạo tăng 30,3%;  điện thoại và linh kiện tăng 7,7%; cà phê tăng 6,8%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2018 tăng mạnh với mức 33,1%[6], trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 31,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 33,7%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 4,2 tỷ USD, tăng 80,7%; hàng dệt may đạt 2,3 tỷ USD, tăng 7,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 2,2 tỷ USD, tăng 37,9%; giày dép đạt 1,3 tỷ USD, tăng 11,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1,1 tỷ USD, tăng 18,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 730 triệu USD, tăng 22%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 620 triệu USD, tăng 3,5%; cà phê đạt 340 triệu USD, tăng 7,7%; rau quả đạt 320 triệu USD, tăng 36,4%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Cao su đạt 169 triệu USD, giảm 5,7% (lượng tăng 60,9%); hạt tiêu đạt 51 triệu USD, giảm 17,9% (lượng tăng 43,5%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1/2018 với kim ngạch đạt 4,5 tỷ USD, gấp 2,5 lần cùng kỳ năm trước[7]; tiếp đến là Hoa Kỳ đạt 3,5 tỷ USD, tăng 17%; EU đạt 3 tỷ USD, tăng 6,6%; ASEAN đạt 1,7 tỷ USD, tăng 15,7%; Nhật Bản đạt 1,5 tỷ USD, tăng 18,6%; Hàn Quốc đạt 1,3 tỷ USD, tăng 28%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 12/2017 đạt 19.888 triệu USD, cao hơn 88 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 203 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 163 triệu USD; xăng dầu cao hơn 61 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 38 triệu USD; chất dẻo thấp hơn 38 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép thấp hơn 44 triệu USD; vải thấp hơn 76 triệu USD; sắt thép thấp hơn 84 triệu USD. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện năm 2017 đạt 211,1 tỷ USD, cao hơn 8 triệu USD so với số ước tính[8].

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1/2018 ước tính đạt 19,3 tỷ USD, giảm 3% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,8 tỷ USD, giảm 4,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,5 tỷ USD, giảm 1,7%. Kim ngạch một số mặt hàng giảm mạnh so với tháng trước: Ô tô đạt 304 triệu USD, giảm 52,1%; xăng dầu đạt 552 triệu USD, giảm 27,2%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1/2018 ước tính tăng mạnh 47,4%, chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng tăng cao vào tháng giáp Tết Nguyên đán, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 43,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 50,4%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng: Điện thoại và linh kiện tăng 115,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 72,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 25,4%; xăng dầu tăng 10,8% (lượng tăng 3,5%). Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm: Ô tô giảm 17,9%, trong đó ô tô nguyên chiếc giảm 38%; sữa và sản phẩm sữa giảm 6,2%.

Về thị trường nhập khẩu trong tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 5,7 tỷ USD, tăng 45,6% so với cùng kỳ năm 2017; Hàn Quốc đạt 4,2 tỷ USD, tăng 54,2%; ASEAN đạt 2,6 tỷ USD, tăng 46,3%; Nhật Bản đạt 1,7 tỷ USD, tăng 93,1%; EU đạt 1,1 tỷ USD, tăng 34,1%; Hoa Kỳ đạt 780 triệu USD, tăng 15,4%.

Cán cân thương mại hàng hóa năm 2017 xuất siêu 2,9 tỷ USD, tương đương 1,4% kim ngạch xuất khẩu. Tháng 1/2018 ước tính nhập siêu 300 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 2,1 tỷ USD.

 
 
   c. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2018 tăng 0,51% so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 1,83% (dịch vụ y tế tăng 2,34%) do trong tháng có 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế cho đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,09%). Nhóm giao thông tăng khá cao với 1,17%, chủ yếu do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng dầu vào thời điểm 4/1/2018 và 19/1/2018; giá vé tàu hỏa tăng dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,55% do giá điện sinh hoạt[9] và giá dầu hỏa được điều chỉnh tăng, cùng với nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao trong tháng cuối năm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,44% (lương thực tăng 0,47%, thực phẩm tăng 0,56%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,35%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,03% (dịch vụ giáo dục tăng 0,04%); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,40%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,09% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 1/2018 tăng 2,65%.

Chỉ số giá vàng tháng 1/2018 tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 6,70% so với cùng kỳ năm 2017. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 1/2018 giảm 0,04% so với tháng trước và giảm 0,02% so với cùng kỳ năm 2017.

Lạm phát cơ bản tháng 1/2018 tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 1,18% so với cùng kỳ năm trước.

 

 

d. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Một ước tính đạt 369,3 triệu lượt khách, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2017 và 16,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,2%, chủ yếu do nhu cầu đi lại của người dân tăng cao trong dịp đầu năm dương lịch được nghỉ khá dài ngày. Vận tải hành khách đường bộ đạt 348,6 triệu lượt khách, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước11,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,1%; đường thủy nội địa đạt 15,6 triệu lượt khách, tăng 5,2% và 293,7 triệu lượt khách.km, tăng 5,9%; đường biển đạt 599,9 nghìn lượt khách, tăng 7,9% và 35,3 triệu lượt khách.km, tăng 8,1%. Vận tải bằng đường hàng không đạt khá với 3,9 triệu lượt khách, tăng 11,2% và 4,2 tỷ lượt khách.km, tăng 12,8% do các hãng hàng không trong nước tăng cường thêm các chuyến bay. Vận tải đường sắt đạt 0,6 triệu lượt khách, giảm 33,3% và 0,2 tỷ lượt khách.km, giảm 45,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Vận tải hàng hóa tháng Một ước tính đạt 130,6 triệu tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước và 24,4 tỷ tấn.km, tăng 6,1%, trong đó vận tải trong nước đạt 127,9 triệu tấn, tăng 8,6% và 13,2 tỷ tấn.km, tăng 10,8%; vận tải ngoài nước đạt 2,8 triệu tấn, tăng 0,7% và 11,2 tỷ tấn.km, tăng 1,1%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 100,9 triệu tấn, tăng 8,9% và 6,7 tỷ tấn.km, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy nội địa đạt 22,9 triệu tấn, tăng 7,1% và 4,9 tỷ tấn.km, tăng 6,9%; đường biển đạt 6,3 triệu tấn, tăng 3,7% và 12,3 tỷ tấn.km, tăng 3,3%; đường sắt đạt 0,5 triệu tấn, tăng 23,5% và 0,4 tỷ tấn.km, tăng 57,4%; đường hàng không đạt 30,2 nghìn tấn, tăng 5,6% và 79,4 triệu tấn.km, tăng 3,8%.

 

e. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng 1/2018 ước tính đạt 1.430,2 nghìn lượt người, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến bằng đường hàng không tăng 37,8% (tăng 315,7 nghìn lượt người); bằng đường bộ tăng 58,9% (tăng 90,6 nghìn lượt người); bằng đường biển tăng 89,5% (tăng 16,4 nghìn lượt người). So với tháng trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 12,1%, trong đó khách đến từ châu Âu, châu Mỹ, châu Úc tăng mạnh[10] do bà con Việt Kiều về quê ăn Tết Mậu Tuất, đồng thời ở các nước châu Âu, châu Mỹ đang là kỳ nghỉ đông nên nhu cầu đi du lịch nước ngoài của người dân khá lớn.

Trong tháng Một, khách đến nước ta từ châu Á ước tính đạt 1.046,7 nghìn lượt người, tăng 53,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 418,5 nghìn lượt người, tăng 69%; Hàn Quốc 316,3 nghìn lượt người, tăng 84%; Nhật Bản 71,8 nghìn lượt người, tăng 8,2%; Đài Loan 48,5 nghìn lượt người, tăng 22,9%; Ma-lai-xi-a 44 nghìn lượt người, tăng 35,5%; Thái Lan 32,3 nghìn lượt người, tăng 11,3%; Xin-ga-po 25,8 nghìn lượt người, tăng 16%; Cam-pu-chia 24,6 nghìn lượt người, tăng 36,6%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 225,5 nghìn lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga đạt 74,3 nghìn lượt người, tăng 26,9%; Vương quốc Anh 28,4 nghìn lượt người, tăng 18,1%; Pháp 26,7 nghìn lượt người, tăng 23,4%; Đức 21 nghìn lượt người, tăng 14,2%; Thụy Điển 10,6 nghìn lượt người, tăng 23,7%; I-ta-li-a 8,4 nghìn lượt người, tăng 23,5%; Hà Lan 7 nghìn lượt người, tăng 7,5%; Phần Lan 5,3 nghìn lượt người, tăng 47,5%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 97,7 nghìn lượt người, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 72,6 nghìn lượt người, tăng 8%. Khách đến từ châu Úc đạt 55,3 nghìn lượt người, tăng 13,5%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 50,1 nghìn lượt người, tăng 13,5%. Khách đến từ châu Phi đạt 5 nghìn lượt người, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

7. Một số tình hình xã hội

a. Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Một (tính đến ngày 18/1/2018), cả nước có 5,7 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 19,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, trong đó Đắk Lắk có 2,1 nghìn hộ, tương ứng với 5,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói; Lạng Sơn 1,4 nghìn hộ, tương ứng với 5 nghìn nhân khẩu; Gia Lai 966 hộ, tương ứng với 4,3 nghìn nhân khẩu. Theo báo cáo sơ bộ, để khắc phục tình trạng thiếu đói, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 135 tấn gạo.

b. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 1/2018, cả nước có 2,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 20,6% so với cùng kỳ năm trước; gần 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, giảm 35,2%; 14 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 3 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 2 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 1 trường hợp nhiễm vi rút Zika và 145 người bị ngộ độc thực phẩm.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/1/2018 là 209,2 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 90,3 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 95,4 nghìn người.

c. Tai nạn giao thông

Từ 16/12/2017 đến 15/1/2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.762 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 890 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 872 vụ va chạm giao thông, làm 780 người chết; 426 người bị thương và 922 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 3,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 4,5%; số vụ va chạm giao thông tăng 2,6%); số người chết tăng 4,8%; số người bị thương tăng 161,3% và số người bị thương nhẹ giảm 9,2%. Bình quân một ngày trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 29 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 28 vụ va chạm giao thông, làm 25 người chết, 14 người bị thương và 30 người bị thương nhẹ.

d. Thiệt hại thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Thiên tai xảy ra trong tháng chủ yếu là rét đậm, rét hại, mưa và sạt lở đất tại một số địa phương làm 3,5 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng, hàng trăm con gia súc bị chết, tổng giá trị thiệt hại hơn 14,7 tỷ đồng. Trong đó, thiệt hại do mưa to, gây lụt tại Bình Định cuối tháng 12/2017 và đầu tháng 1/2018 là hơn 7 tỷ đồng; thiệt hại tại ba tỉnh miền núi phía Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Sơn La) do rét đậm, rét hại là 5,4 tỷ đồng.

Trong tháng 1/2018, các cơ quan chức năng đã phát hiện 865 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó xử lý 780 vụ với tổng số tiền phạt 15,3 tỷ đồng. Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 399 vụ cháy, nổ, làm 13 người chết và 32 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 177,5 tỷ đồng./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 

 



[1] Giá cá tra ở mức 28.000-30.000 đồng/kg, tăng 5.000-7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

[2] Từ tháng 1/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp được tính toán và công bố theo năm gốc so sánh 2015.

[3] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[4] Trong tháng 1/2017 có 8.990 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 90,3 nghìn tỷ đồng, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10 tỷ đồng.

[5] Theo số liệu ngày 12/1/2018 của Tổng cục Hải quan, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện 11 tháng năm 2017 đạt 194,4 tỷ USD.

[6] Số ngày làm việc trong tháng Một năm nay nhiều hơn so với năm trước do năm 2017 thời gian nghỉ Tết Nguyên đán chủ yếu trong tháng Một.

[7] Một số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tháng 1/2018 có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 1,4 tỷ USD, gấp 32 lần cùng kỳ năm trước; máy vi tính và linh kiện đạt 650 triệu USD, tăng 69%; hàng rau quả đạt 240 triệu USD, tăng 37%.

[8] Theo số liệu ngày 12/1/2018 của Tổng cục Hải quan, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện 11 tháng năm 2017 đạt 191,2 tỷ USD.

[9] Giá điện sinh hoạt tăng 2,64% so với tháng trước do giá điện bình quân được điều chỉnh tăng 6,08% từ ngày 1/12/2017 theo Quyết định số 4495/QĐ-BCT ngày 30/11/2017 quy định về giá bán điện của Bộ Công Thương.

[10] Khách đến từ châu Âu tăng 34,9% so với tháng trước; từ châu Mỹ tăng 36,6%; từ châu Úc tăng 53,6%.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 02 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội năm 2017
  Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2017